Từ chính sách thu hút người học đến câu hỏi về sự gắn bó với nghề
Nhiều quốc gia sử dụng chính sách hỗ trợ tài chính, miễn giảm học phí hoặc bảo đảm việc làm để thu hút người trẻ vào ngành sư phạm, nhất là ở những lĩnh vực còn thiếu nhân lực. Tuy nhiên, một chính sách có thể giúp sinh viên bước vào trường sư phạm nhưng chưa chắc đã đủ để họ tin tưởng, yêu nghề và sẵn sàng theo đuổi công việc sau khi tốt nghiệp.
Câu hỏi ấy đặc biệt đáng chú ý trong giáo dục mầm non. Người giáo viên ở bậc học đầu đời vừa tổ chức hoạt động giáo dục, vừa chăm sóc, giao tiếp với gia đình và hỗ trợ sự phát triển toàn diện của trẻ. Trong khi đó, nghề nghiệp vẫn phải đối diện với nhiều vấn đề về điều kiện làm việc, sự ghi nhận xã hội và triển vọng phát triển chuyên môn. Bởi vậy, nhận thức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm mầm non thường được hình thành qua một quá trình dài, từ bài giảng trên lớp, hoạt động thực hành, quan hệ với giảng viên đến cách xã hội nhìn nhận nghề chăm sóc và giáo dục trẻ nhỏ.
Beijaard và cộng sự (2004) xem bản sắc nghề nghiệp của giáo viên là một quá trình phát triển liên tục, trong đó mỗi cá nhân diễn giải vai trò, giá trị và vị trí nghề nghiệp của mình qua trải nghiệm. Beauchamp và Thomas (2009) cũng nhấn mạnh rằng nhận thức về nghề không phải một đặc điểm bất biến mà luôn được điều chỉnh trong quan hệ giữa mong muốn cá nhân và yêu cầu của môi trường đào tạo.
Từ cách tiếp cận đó, Xingjiang Tian, Miaomiao Liu và Tong Yue đặt câu hỏi: trong một chương trình đào tạo giáo viên do Nhà nước hỗ trợ kinh phí, sinh viên sư phạm mầm non cảm nhận chính sách và sự đồng hành của giảng viên ra sao, và những trải nghiệm ấy có quan hệ như thế nào với mức độ gắn bó nghề nghiệp? Công trình được công bố năm 2026 trên tạp chí Education Sciences.
Một chương trình vừa hỗ trợ vừa đặt ra trách nhiệm nghề nghiệp
Chính sách đào tạo giáo viên bằng ngân sách nhà nước tại Trung Quốc được triển khai từ năm 2007, với mục tiêu thu hút người học có năng lực vào ngành sư phạm và bổ sung giáo viên cho giáo dục cơ bản. Sinh viên tham gia chương trình được miễn học phí, miễn chi phí chỗ ở, nhận trợ cấp sinh hoạt và có cơ hội được bố trí việc làm sau khi tốt nghiệp. Đổi lại, họ phải thực hiện cam kết giảng dạy tại những địa bàn được phân công trong một khoảng thời gian nhất định.
Như vậy, chính sách vừa mang lại hỗ trợ vật chất và sự bảo đảm nghề nghiệp, vừa đặt người học trước những yêu cầu dài hạn về nơi công tác và nghĩa vụ phục vụ. Các điều chỉnh vào năm 2018 và 2024 tiếp tục hướng đến chuẩn hóa chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo, quản lí việc thực hiện cam kết và kéo dài lộ trình đào tạo ở một số chương trình từ bậc đại học lên thạc sĩ.
Tại Trùng Khánh, chương trình dành cho sinh viên sư phạm mầm non được xây dựng nhằm đào tạo giáo viên cho những quận, huyện còn hạn chế về nguồn nhân lực và điều kiện phát triển giáo dục mầm non. Trong môi trường ấy, người học không chỉ tiếp nhận những quyền lợi của chương trình mà còn phải cân nhắc trách nhiệm công tác, khả năng lựa chọn nơi làm việc và định hướng phát triển sau tốt nghiệp.
Theo Bronfenbrenner (1979), sự phát triển của mỗi cá nhân diễn ra trong nhiều lớp môi trường có quan hệ qua lại, từ các quy định xã hội, thiết chế giáo dục đến những tương tác gần gũi hằng ngày. Đặt trong đào tạo sư phạm, chính sách là khung thể chế ở phạm vi rộng, còn giảng viên và hoạt động học tập tạo nên không gian trực tiếp để sinh viên hiểu, tiếp nhận và đánh giá con đường nghề nghiệp đã lựa chọn.
Không phải sinh viên nào cũng trải nghiệm chính sách theo cùng một cách
Khảo sát được tiến hành từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2024 tại hai trường đại học ở Trùng Khánh. Trong 643 phiếu được phát ra, 620 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích. Người tham gia đều là sinh viên ngành Giáo dục mầm non thuộc chương trình đào tạo do Nhà nước hỗ trợ kinh phí; phần lớn là nữ, độ tuổi từ 16 đến 21.
Nhóm tác giả đo lường ba nội dung: mức độ hài lòng với chính sách, cảm nhận về sự hỗ trợ của giảng viên và nhận thức nghề nghiệp. Hài lòng với chính sách được xem xét ở cả hai phương diện: những quyền lợi như miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt, bảo đảm việc làm và những điều khoản mang tính ràng buộc như thời gian phục vụ hoặc địa điểm công tác sau tốt nghiệp.
Sự hỗ trợ của giảng viên bao gồm hướng dẫn học tập, giải thích chuyên môn, phản hồi khi sinh viên gặp khó khăn, động viên tinh thần và hỗ trợ xây dựng năng lực nghề nghiệp. Nhận thức nghề nghiệp được thể hiện qua sự thừa nhận giá trị giáo dục của nghề mầm non, cách đánh giá vị thế và điều kiện làm việc, cùng ý định tiếp tục học tập, quan tâm và gắn bó với nghề.
Thay vì chỉ tính một mức trung bình chung cho toàn bộ mẫu khảo sát, công trình sử dụng phân tích hồ sơ tiềm ẩn để tìm ra những nhóm sinh viên có cách đánh giá gần nhau. Phương pháp tiếp cận theo con người này giúp nhận diện sự khác biệt giữa các nhóm trải nghiệm, thay vì giả định rằng mọi sinh viên trong cùng một chương trình đều tiếp nhận chính sách và sự hỗ trợ theo một khuôn mẫu giống nhau.
Kết quả xác định bốn nhóm. Nhóm “hài lòng cao – hỗ trợ cao” chiếm 46,45%, lớn nhất trong mẫu khảo sát. Nhóm “không hài lòng – hỗ trợ thấp” chiếm 26,45%; nhóm “hài lòng vừa phải – hỗ trợ trung bình” chiếm 18,55%. Nhỏ nhất là nhóm “rất không hài lòng – hỗ trợ thấp”, với 8,55%.
Bốn hồ sơ này cho thấy cùng thụ hưởng một chương trình và học trong những cơ sở đào tạo tương đồng, sinh viên vẫn có thể hình thành những cách nhìn rất khác nhau. Gần một nửa cảm nhận tích cực cả về chính sách lẫn sự đồng hành của giảng viên, nhưng vẫn còn hơn một phần ba thuộc hai nhóm có mức hài lòng thấp. Đây là sự phân hóa cần được chú ý, bởi nó phản ánh trải nghiệm thực tế của người học chứ không chỉ là mức độ hấp dẫn được thể hiện trong văn bản chính sách.
Khi sự hài lòng đi cùng niềm tin nghề nghiệp
Trong ba biến số được khảo sát, mức độ hài lòng với chính sách có tương quan thuận với sự hỗ trợ của giảng viên và nhận thức nghề nghiệp. Sinh viên càng đánh giá tích cực về chương trình, họ càng có xu hướng cảm nhận rõ hơn sự đồng hành trong đào tạo và thể hiện mức độ gắn bó cao hơn với nghề giáo viên mầm non.
Sự khác biệt giữa bốn nhóm cũng khá rõ. Nhóm “hài lòng cao – hỗ trợ cao” đạt điểm nhận thức nghề nghiệp cao nhất. Nhóm có mức hài lòng vừa phải và hỗ trợ trung bình đứng ở vị trí tiếp theo. Hai nhóm còn lại, nơi sinh viên đồng thời đánh giá thấp chính sách và sự hỗ trợ, ghi nhận mức gắn bó nghề nghiệp thấp hơn đáng kể.
Sau khi kiểm soát giới tính, năm học, độ tuổi, tình trạng con một và xuất thân thành thị hay nông thôn, mối liên hệ giữa hồ sơ trải nghiệm với nhận thức nghề nghiệp vẫn được duy trì. Mô hình phân tích giải thích được 37,4% sự khác biệt về điểm nhận thức nghề nghiệp. Điều đó không cho phép khẳng định quan hệ nhân quả, nhưng cho thấy cách sinh viên tiếp nhận chính sách và cảm nhận sự đồng hành trong trường sư phạm có quan hệ chặt chẽ với cách họ nhìn nhận nghề nghiệp tương lai.
Công trình còn ghi nhận sinh viên lớn tuổi hơn có khả năng thuộc nhóm “rất không hài lòng – hỗ trợ thấp” cao hơn so với nhóm tích cực nhất. Sinh viên là con một ít có khả năng thuộc nhóm “không hài lòng – hỗ trợ thấp” hơn sinh viên không phải con một. Tuy nhiên, do khảo sát không đo trực tiếp điều kiện kinh tế gia đình, kì vọng của cha mẹ hay những nguồn lực hỗ trợ tại nhà, nhóm tác giả không đưa ra giải thích chắc chắn về cơ chế phía sau sự khác biệt đó.
Giới tính, năm học và xuất thân thành thị hoặc nông thôn không dự báo có ý nghĩa đối với việc một sinh viên thuộc nhóm nào. Phát hiện ấy gợi ý rằng sự khác biệt trong trải nghiệm chính sách và đào tạo chưa thể được giải thích đầy đủ bằng một số đặc điểm nhân khẩu học quen thuộc. Cách người học hiểu các điều khoản, đối diện với nghĩa vụ nghề nghiệp và nhận hỗ trợ trong quá trình học có thể đáng quan tâm hơn.
Ryan và Deci (2000) cho rằng động lực được củng cố khi cá nhân cảm thấy mình có năng lực, được hỗ trợ và có khả năng tham gia có ý nghĩa vào môi trường hoạt động. Trong đào tạo giáo viên, sự động viên, phản hồi và hướng dẫn chuyên môn vì thế không phải phần bổ trợ bên ngoài chương trình, mà có thể góp phần giúp sinh viên từng bước tiếp nhận mục tiêu nghề nghiệp như một lựa chọn có ý nghĩa đối với bản thân.
Chính sách cần được giải thích bằng trải nghiệm giáo dục
Một trong những đóng góp đáng chú ý của công trình là chỉ ra giới hạn của cách triển khai chính sách chủ yếu dựa vào hỗ trợ tài chính và cam kết hành chính. Miễn học phí, trợ cấp sinh hoạt hay bảo đảm việc làm có thể tạo điều kiện để người học theo đuổi ngành sư phạm. Tuy nhiên, những quyền lợi ấy chưa tự động chuyển thành niềm tin nghề nghiệp.
Sinh viên còn cần hiểu vì sao chính sách được ban hành, nghĩa vụ công tác có ý nghĩa ra sao đối với cộng đồng và con đường phát triển nghề nghiệp của họ sẽ được bảo đảm như thế nào. Nếu nội dung chương trình chỉ được phổ biến vào thời điểm nhập học hoặc ký cam kết, những băn khoăn về nơi làm việc, trách nhiệm phục vụ và khả năng phát triển lâu dài có thể chưa được giải đáp đầy đủ.
Từ kết quả khảo sát, nhóm tác giả đề nghị cơ sở đào tạo và cơ quan giáo dục địa phương duy trì truyền thông chính sách trong suốt quá trình học. Hoạt động tư vấn nghề nghiệp cần tạo cơ hội để sinh viên trao đổi thẳng thắn về yêu cầu công tác, địa điểm phân bổ, điều kiện làm việc và triển vọng chuyên môn.
Vai trò của giảng viên cũng cần được mở rộng từ truyền đạt kiến thức sang hướng dẫn học tập, động viên tinh thần, phản hồi về sự tiến bộ và hỗ trợ sinh viên xây dựng năng lực nghề nghiệp. Trong thực hành sư phạm, người học cần được giúp kết nối những yêu cầu của chương trình với giá trị xã hội của giáo dục mầm non, qua đó hình thành kì vọng nghề nghiệp vừa tích cực vừa phù hợp với thực tế.
Bốn nhóm trải nghiệm còn đặt ra yêu cầu hỗ trợ có phân hóa. Sinh viên có mức hài lòng và cảm nhận hỗ trợ thấp cần được nhận diện thông qua khảo sát định kì, trao đổi cá nhân và hoạt động cố vấn. Việc nhận diện không nhằm dán nhãn người học, mà giúp cơ sở đào tạo xác định đúng nhu cầu: có người cần được giải thích rõ hơn về chính sách, có người cần hỗ trợ chuyên môn, có người cần tư vấn về lựa chọn và định hướng sau tốt nghiệp.
Gợi mở cho đào tạo giáo viên mầm non tại Việt Nam
Kết quả từ Trùng Khánh không thể được áp dụng nguyên trạng cho Việt Nam vì mỗi quốc gia có hệ thống đào tạo, tuyển dụng và sử dụng giáo viên khác nhau. Tuy vậy, công trình mang lại một gợi mở quan trọng: chất lượng chính sách cần được đánh giá cả qua cách người học tiếp nhận và trải nghiệm trong cơ sở đào tạo.
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 xác định phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa đối với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Kết luận số 91-KL/TW ngày 12 tháng 8 năm 2024 tiếp tục đặt ra yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW trong giai đoạn mới.
Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tiếp tục xác định phát triển đội ngũ nhà giáo là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Trong khi đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 đặt ra yêu cầu đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, qua đó làm gia tăng yêu cầu đổi mới năng lực của đội ngũ giáo viên và chất lượng đào tạo tại các trường sư phạm.
Trong bối cảnh ấy, các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non cần quan tâm đồng thời đến ba phương diện. Trước hết, chính sách hỗ trợ người học phải được truyền đạt rõ ràng, nhất quán và có tư vấn trong suốt khóa học, thay vì chỉ phổ biến ở thời điểm tuyển sinh. Tiếp đó, hệ thống cố vấn học tập cần giúp sinh viên hiểu điều kiện nghề nghiệp, yêu cầu chuyên môn và triển vọng phát triển sau tốt nghiệp. Cuối cùng, hoạt động thực hành và thực tập nên tạo cơ hội để người học tiếp xúc với môi trường nghề nghiệp thực tế, nhận phản hồi từ giảng viên và giáo viên hướng dẫn, đồng thời từng bước xác lập niềm tin vào giá trị của công việc chăm sóc, giáo dục trẻ nhỏ.
Việc khảo sát định kì mức độ hài lòng, cảm nhận được hỗ trợ và định hướng nghề nghiệp cũng có thể cung cấp dữ liệu cho nhà trường điều chỉnh chương trình. Thay vì đợi đến khi sinh viên giảm động lực hoặc có ý định rời nghề, cơ sở đào tạo có thể sớm nhận diện những nhóm cần được tư vấn và hỗ trợ phù hợp hơn.
Nuôi dưỡng nghề nghiệp từ những trải nghiệm hằng ngày
Công bố của Tian và cộng sự không khẳng định rằng chính sách hay sự hỗ trợ của giảng viên quyết định trực tiếp việc sinh viên sẽ gắn bó với nghề. Thiết kế khảo sát tại một thời điểm và phạm vi hai trường đại học chưa cho phép đi đến kết luận như vậy. Tuy nhiên, dữ liệu từ 620 sinh viên đã làm rõ một điểm đáng lưu ý: những người đánh giá tích cực hơn về chính sách và cảm nhận rõ hơn sự đồng hành trong đào tạo cũng thể hiện nhận thức nghề nghiệp vững vàng hơn.
Một chính sách tốt có thể đưa người học đến với trường sư phạm. Nhưng để họ ở lại với nghề, những điều khoản trên văn bản cần được tiếp nối bằng sự hướng dẫn, sẻ chia và trải nghiệm chuyên môn có ý nghĩa. Bản sắc nghề nghiệp của giáo viên mầm non tương lai vì thế không hình thành trong một thời điểm, mà được bồi đắp qua từng giờ học, từng lần thực hành, từng phản hồi của giảng viên và từng cơ hội để người học hiểu rõ hơn giá trị xã hội của lựa chọn mình đã thực hiện.
Nguồn:
Tian, X., Liu, M., & Yue, T. (2026). Understanding Professional Identity Through Policy and Support Perceptions: A Latent Profile Study of Pre-Service Preschool Teachers in China. Education Sciences, 16(7), 1069. https://doi.org/10.3390/educsci16071069