Quyết định số 522/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án "Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025" của Chính phủ đã hướng dẫn rất rõ về đối tượng phân luồng và mục tiêu cụ thể được đặt ra. Cụ thể, đến năm 2025 có ít nhất 40% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học tập tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp; đối với các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 30%. Trong khi đó, theo Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045 mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, mục tiêu đạt tỷ lệ học sinh từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông và các trình độ khác đạt 95%.
Trong nhiều năm, cụm từ “hướng nghiệp, phân luồng” được đề cập như một nhiệm vụ chiến lược của giáo dục để giải quyết bài toán “thừa thầy, thiếu thợ” tại Việt Nam. Dự thảo Nghị định quy định về hướng nghiệp và phân luồng giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy công tác hướng nghiệp, phân luồng trong giáo dục phổ thông đang dần trở thành một trụ cột quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống giáo dục quốc dân. Một trong những điểm đáng chú ý của Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua là việc bổ sung một loại hình giáo dục nghề nghiệp mới là trung học nghề. Theo đó, học hết lớp 9, học sinh sẽ có 2 lựa chọn song song: Học lên trung học phổ thông hoặc học nghề. Nhiều ý kiến cho rằng, việc bổ sung mô hình trung học nghề cùng bậc học với trung học phổ thông vừa nhằm thúc đẩy hiệu quả phân luồng, hướng nghiệp, vừa góp phần phổ cập giáo dục trung học phổ thông, vừa cung ứng nguồn nhân lực trẻ có kỹ năng nghề cho phát triển đất nước.
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
Học viên Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Nghệ An (Ảnh: website nhà trường)
|
|
Từ những quan sát và kinh nghiệm nhiều năm theo dõi giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, PGS.TS Trần Xuân Nhĩ - Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có cuộc chia sẻ với Tạp chí Giáo dục về việc làm sao để phân luồng trong hệ thống giáo dục Việt Nam được thực chất, hiệu quả và phù hợp với chiến lược dài hạn.
Thưa PGS, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã khẳng định Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Tuy nhiên, thực tế nhiều năm qua, Việt Nam vẫn đang loay hoay với bài toán phân luồng giáo dục. Theo PGS, điểm nghẽn lớn nhất dẫn đến tình trạng này là gì?
PGS.TS. Trần Xuân Nhĩ: Thời gian qua, vấn đề phân luồng giáo dục luôn là một chủ đề quan trọng nhưng cũng đầy trăn trở đối với ngành Giáo dục và toàn xã hội. Chúng ta đều biết, tâm lý chung của đại đa số phụ huynh luôn mặc định rằng vào đại học mới là con đường tốt nhất. Nhưng thực tế, mỗi năm có hàng triệu cử nhân ra trường, trong khi nền kinh tế không thể “hấp thụ” được hết một lực lượng cao động trình độ cao lớn đến vậy. Ngược lại, thị trường lao động lại đang thiếu trầm trọng những người có tay nghề cao, kỹ thuật viên lành nghề - những vị trí vô cùng cần thiết cho sản xuất và cung ứng dịch vụ.
Từ xa xưa, ông cha ta đã có câu: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, nghĩa là một con người chỉ cần giỏi một nghề cũng đủ để sống tốt và đóng góp cho xã hội. Không phải ai cũng cần phải trở thành cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay giáo sư. Mỗi người có năng lực, sở trường khác nhau. Có em học xuất sắc, có em học lực trung bình, nhưng lại có niềm yêu thích đặc biệt với một nghề cụ thể. Vì vậy, phân luồng là điều bắt buộc, phù hợp với quy luật phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Ông cha ta có câu: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, nghĩa là một con người chỉ cần giỏi một nghề cũng đủ để sống tốt và đóng góp cho xã hội. Không phải ai cũng cần phải trở thành cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ hay giáo sư. Mỗi người có năng lực, sở trường khác nhau. Có em học xuất sắc, có em học lực trung bình, nhưng lại có niềm yêu thích đặc biệt với một nghề cụ thể. Vì vậy, phân luồng là điều bắt buộc, phù hợp với quy luật phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công trong phân luồng sớm và gắn giáo dục với nhu cầu thị trường lao động. Theo PGS, những mô hình phân luồng của thế giới có điểm gì đáng chú ý và Việt Nam có thể áp dụng được gì từ những mô hình này?
PGS.TS. Trần Xuân Nhĩ: Ở một số quốc gia, phân luồng giáo dục được thực hiện từ cấp hai theo 3 nhóm:
Thứ nhất là nhóm hàn lâm (hay còn gọi là academic): chỉ nhóm học sinh tiếp tục học lên trung học phổ thông, sau đó lên đại học, khoảng 30%.
Thứ hai là nhóm kỹ thuật - kỹ thuật viên: chỉ nhóm học sinh học tiếp lên cao đẳng hoặc các trường kỹ thuật để trở thành kỹ thuật viên - bậc trung gian giữa kỹ sư và công nhân, khoảng 30%.
Thứ ba là nhóm nghề: chỉ nhóm học sinh học nghề để vào thẳng thị trường lao động, bổ túc thêm nếu cần, khoảng 40%.
Các trường trung học cũng chia thành 3 loại tương ứng với 3 định hướng trên. Học sinh học xong cấp ba đều có kỹ năng, có nghề để đi làm hoặc tiếp tục học lên tuỳ năng lực. Mô hình này vận hành rất ổn định, hiệu quả, tạo ra cấu trúc nhân lực cân đối và bền vững cho quốc gia.
Ví dụ, ở Nhật Bản, số lượng trường phổ thông kỹ thuật - nghề chiếm gần 1/3 tổng số trường phổ thông. Tôi từng có dịp ghé thăm một trường liên kết Việt - Nhật theo mô hình: Học sinh vừa học chương trình văn hoá, vừa học kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ chế biến, dịch vụ… Các em được thực hành làm sữa chua, bánh mì, xúc xích, chế biến thực phẩm một cách thành thạo. Ở Nhật, học sinh cũng có thể chọn học nghề biển, nghề chế biến, nghề dịch vụ tuỳ sở thích và điều kiện địa phương. Singapore cũng phân loại trường rất rõ từ trung học cơ sở. Học sinh được kiểm tra, đánh giá và sắp xếp vào 3 loại trường phù hợp với năng lực. Đến trung học phổ thông, kết quả thi tốt nghiệp còn là căn cứ để xếp vào các nhóm trường đại học dựa trên điểm số và thời gian đăng ký, hoàn toàn minh bạch. Nhờ vậy, không xuất hiện tình trạng “chạy trường, chạy điểm”, mọi thứ diễn ra công bằng và tạo động lực phấn đấu cho cả học sinh lẫn nhà trường.
Mục tiêu của ngành Giáo dục hiện nay là xây dựng hệ thống phân luồng linh hoạt, liên thông giữa các trình độ. Tuy nhiên, sự liên thông này vẫn còn một số hạn chế nhất định, khiến nhiều học sinh e ngại khi lựa chọn giáo dục nghề nghiệp. Theo PGS, hệ thống trường học tại các địa phương cần tổ chức như thế nào để tạo ra những lộ trình học tập phù hợp với học sinh?
PGS.TS Trần Xuân Nhĩ: Trước đây, sau cấp hai, học sinh hầu như chỉ có một lựa chọn: Thi tiếp vào trung học phổ thông. Các trường trung học phổ thông gần như giống nhau, một chương trình chung, không phân hoá. Vì vậy, học sinh không có định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Phụ huynh cũng thiếu thông tin, từ đó mới nảy sinh áp lực “trường chuyên, lớp chọn”. Nếu địa phương chỉ tập trung mở trường trung học phổ thông mà không phát triển trường kỹ thuật - nghề, thì học sinh dù muốn cũng không có lựa chọn nào khác ngoài việc “vào lớp 10 cho bằng được”. Đó là lý do vì sao áp lực thi vào lớp 10 đang căng thẳng hơn cả thi đại học ở một số đô thị lớn.
Như vậy, địa phương cần xây dựng hệ thống trường đa dạng: trường học thuật, trường kỹ thuật và trường nghề. Khi học sinh nhìn thấy những con đường rõ ràng, có tương lai, thì phân luồng mới thực chất. Theo tôi, giáo dục phân luồng nên được thực hiện từ trung học cơ sở. Ở lứa tuổi này, học sinh đã bộc lộ tương đối rõ khả năng: Có em giỏi về học thuật, có em thiên về các môn năng khiếu. Nếu thực hiện phân luồng từ cấp ba thì đã muộn, vì lúc này các em đã đi gần hết hành trình học phổ thông.
Vậy theo PGS, đâu là yếu tố quyết định thành công của phân luồng trong bối cảnh Nhà nước và ngành Giáo dục đang thực hiện hàng loạt chính sách đổi mới giáo dục?
PGS.TS Trần Xuân Nhĩ: Muốn phân luồng thành công, chúng ta phải đồng thời làm tốt 3 việc:
Thứ nhất: Đổi mới nhận thức xã hội về nghề nghiệp và bằng cấp
Thứ hai: Đa dạng hoá mô hình trường phổ thông
Thứ ba: Tổ chức quản lý minh bạch, công bằng
Quản lý yếu thì khó triển khai đồng bộ. Phụ huynh thì vẫn nặng tâm lý chuộng bằng cấp. Trong khi thực tế, nhiều ngành, nghề đang “khát” nhân lực và đem đến nguồn thu nhập cao. Tôi thường ví thị trường lao động hiện nay cũng giống như một mâm cơm, cần có đủ các nhóm chất, đa dạng món ăn để tạo sự cân bằng. Xã hội cũng vậy, không thể chỉ có giáo sư, tiến sĩ; mà phải có cả kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, những người làm dịch vụ, người trực tiếp sản xuất. Năng lực, sở trường của mỗi học sinh không giống nhau. Vậy tại sao ta lại ép tất cả phải đi chung một con đường? Cần nhìn nhận học nghề là một hướng đi mới, phù hợp hơn và thiết thực hơn.
Tôi thường ví thị trường lao động hiện nay cũng giống như một mâm cơm, cần có đủ các nhóm chất, đa dạng món ăn để tạo sự cân bằng. Xã hội cũng vậy, không thể chỉ có giáo sư, tiến sĩ; mà phải có cả kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, những người làm dịch vụ, người trực tiếp sản xuất. Năng lực, sở trường của mỗi học sinh không giống nhau. Vậy tại sao ta lại ép tất cả phải đi chung một con đường?
Tôi cho rằng nếu chúng ta làm tốt phân luồng, thay đổi nhận thức xã hội, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp và thực hiện thật nghiêm túc, công bằng, minh bạch thì chắc chắn nền giáo dục Việt Nam sẽ bớt áp lực, thị trường lao động sẽ cân bằng hơn. Mỗi học sinh sẽ có cơ hội được phát triển đúng khả năng của mình.
Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của Phó Giáo sư!


