Lần đầu tiên ngôn ngữ một số quốc gia ASEAN sẽ được đưa vào giảng dạy
Mục tiêu cụ thể của Đề án được xác định cho 3 giai đoạn 2025-2030; 2030-2035, và 2035-2045, trong đó nền tảng là giai đoạn 2025-2030 với việc xây dựng các chương trình dạy học ngoại ngữ trong giáo dục phổ thông, giáo dục nghề, giáo dục đại học và giáo dục thường xuyên, các chương trình đào tạo giáo viên ngoại ngữ.
Một điểm nhấn quan trọng của Đề án là việc xác định rõ vai trò của ngôn ngữ các nước láng giềng, bao gồm tiếng Trung, tiếng Lào và ngôn ngữ quốc gia của Campuchia. Việc triển khai dạy các ngoại ngữ này sẽ được ưu tiên tại các xã khu vực biên giới, nơi có nhu cầu giao tiếp, giao thương và giao lưu văn hóa thực tế, sau đó mở rộng ra các cơ sở giáo dục có nhu cầu và đủ điều kiện triển khai.
Theo Đề án, dự kiến trong năm 2026 sẽ triển khai xây dựng chương trình tiếng Lào Ngoại ngữ 1 (từ lớp 3 đến lớp 12) và tiếng Lào Ngoại ngữ 2 (môn học lựa chọn từ lớp 6 đến lớp 12), trước mắt áp dụng tại các địa bàn giáp biên giới Việt Nam – Lào. Đây là bước đi mang ý nghĩa không chỉ về giáo dục, mà còn về đối ngoại nhân dân, hợp tác khu vực và phát triển bền vững vùng biên.
Ngoại ngữ gắn với thị trường lao động, làm quen sớm từ mầm non theo cách tiếp cận mềm
Đề án cũng xác định rõ ba ngoại ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực Việt Nam tham gia thị trường lao động khu vực và thế giới, đó là tiếng Trung, tiếng Nhật và tiếng Hàn. Đây là các quốc gia có sự đầu tư vào Việt Nam cao, có số lượng người ở Việt Nam cao, có số du khách đến Việt Nam cao so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới. Đồng thời, việc có năng lực tốt ở ba ngôn ngữ này cũng đáp ứng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam khi tới làm việc tại các quốc gia sử dụng các ngôn ngữ này như ngôn ngữ chính thức.
Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế của người học, việc làm quen với các ngôn ngữ tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn sẽ được thí điểm triển khai từ bậc mầm non (với trẻ 3 đến 5 tuổi) tại các cơ sở giáo dục có nhu cầu và đủ điều kiện triển khai.
Các hoạt động dự kiến đưa vào thí điểm gồm nghe các bài hát, các câu lệnh, từ rất đơn giản và hát lại hay làm theo, nhắc lại; các hoạt động đố vui như ghép từ đơn giản hàng ngày và hình ảnh đơn giản, ghép từ và đồ vật... Trẻ không bắc buộc học nghe, nói, đọc, viết mà được chơi với ngôn ngữ, được nhúng trong môi trường ngôn ngữ để làm quen và xây dựng niềm yêu thích ngôn ngữ đó. Cách tiếp cận này phù hợp với tâm lý lứa tuổi, đồng thời tránh được những lo ngại về quá tải và thương mại hóa giáo dục mầm non.
Đổi mới triệt để phương pháp dạy học và kiểm tra – đánh giá
Đề án xác định 8 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chính sẽ được triển khai thực hiện ngay từ năm 2025 nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra. Trong số đó, đổi mới căn bản phương pháp dạy học và kiểm tra – đánh giá được coi là giải pháp then chốt, hướng tới mục tiêu mỗi người học khi hoàn thành chương trình đào tạo đều đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ theo yêu cầu.
Một trong những định hướng quan trọng là đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong dạy và học ngoại ngữ. Việc phối hợp chặt chẽ với các quốc gia có ngôn ngữ được giảng dạy tại Việt Nam giữ vai trò quyết định đối với hiệu quả và thành công của triển khai Đề án, từ xây dựng chương trình, kiểm tra – đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và xây dựng, biên soạn sách giáo khoa, học liệu, giáo trình dạy học ngoại ngữ. Đối với một số ngoại ngữ như tiếng Lào, sự hỗ trợ trực tiếp của giáo viên bản ngữ trong giai đoạn đầu là cần thiết, nhằm bảo đảm các chương trình có thể sớm đi vào thực tiễn và đạt chất lượng.
Bên cạnh đó, các phương pháp dạy học phân hóa, cá nhân hóa người học, kết hợp với đánh giá thường xuyên trong quá trình học tập sẽ được áp dụng rộng rãi, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học ngoại ngữ. Đồng thời, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) được xác định là điểm nhấn quan trọng, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra – đánh giá theo hướng linh hoạt, chính xác và phù hợp với năng lực từng người học.
Đặc biệt, việc xây dựng hệ thống học liệu mở có tích hợp AI sẽ tạo điều kiện để người học tiếp cận việc học ngoại ngữ thông qua nhiều hình thức và nền tảng khác nhau, qua đó nâng cao chất lượng dạy học, khuyến khích tự học và thúc đẩy phong trào học ngoại ngữ ở Việt Nam.
Ngoại ngữ trở thành “lợi thế” khi gắn chặt với nhu cầu phát triển đất nước
Một định hướng xuyên suốt của Đề án là gắn đào tạo ngoại ngữ với nhu cầu nhân lực và việc làm, đặc biệt trong các lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, y sinh, an ninh – quốc phòng. Từ đó, ngoại ngữ không còn được xem là mục tiêu tự thân, mà trở thành công cụ trực tiếp hỗ trợ nâng cao năng lực chuyên môn, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và sức cạnh tranh của người học.
Bên cạnh hệ thống nhà trường, Đề án cũng nhấn mạnh vai trò của các trung tâm học tập cộng đồng, học tập suốt đời, nơi quy tụ những người có năng lực ngoại ngữ tốt để chia sẻ kinh nghiệm, tổ chức câu lạc bộ, tạo môi trường sử dụng ngoại ngữ thường xuyên trong cộng đồng.
Có thể khẳng định, Đề án tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025–2035, định hướng đến năm 2045 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy chính sách: từ dạy ngoại ngữ đại trà sang phát triển năng lực ngoại ngữ gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và chiến lược phát triển Quốc gia. Thách thức lớn nhất trong quá trình triển khai không chỉ nằm ở nguồn lực, mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện đồng bộ, nhất quán và tránh chạy theo hình thức. Quan trọng hơn, cần có cơ chế giám sát, đánh giá định kỳ dựa trên năng lực sử dụng thực tế của người học. Nếu được triển khai nghiêm túc, linh hoạt và có trách nhiệm giải trình rõ ràng, Đề án hoàn toàn có thể trở thành nền tảng bền vững để ngoại ngữ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh của người Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Thảo Ly
Tài liệu tham khảo: