Đưa kỹ năng số đến đúng người, đúng nhu cầu
Theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 (Chính phủ, 2025), đo lường nghèo gắn với thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Trong năm 2026, các tiêu chí của giai đoạn trước tiếp tục được sử dụng để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội, trong đó có việc làm, y tế, giáo dục, thông tin... Đáng chú ý, chiều thông tin trong chuẩn nghèo mới đo cả việc sử dụng dịch vụ viễn thông và dịch vụ số cơ bản của hộ gia đình (Chính phủ, 2025). Như vậy, việc không dùng được dịch vụ số đã được tính là một thiếu hụt trong tiếp cận dịch vụ xã hội của hộ nghèo.
Hiện nay, chuyển đổi số đang làm thay đổi chính cách người dân tiếp cận những dịch vụ này. Chủ trương phổ cập kỹ năng số toàn dân đã được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách trong thời gian qua. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng (Bộ Chính trị, 2024). Trên cơ sở đó, phong trào “Bình dân học vụ số” được phát động trên phạm vi toàn quốc từ tháng 3/2025, cùng với việc xây dựng nền tảng phục vụ phổ cập kỹ năng số.
Năm 2026, việc triển khai tiếp tục được cụ thể hóa. Kế hoạch 94-KH/BTGDVTW ngày 28/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương (Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, 2026) đặt ra các nhiệm vụ phát triển nền tảng “Bình dân học vụ số”, hoàn thiện học liệu, tăng cường các nội dung kỹ năng thực hành và hỗ trợ người dân sử dụng những dịch vụ số thiết yếu, đồng thời chú trọng những nhóm như người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Bàn về vấn đề này, GS.TSKH Vũ Minh Giang - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, “Bình dân học vụ số” ngày nay mang ý nghĩa tương tự phong trào “Bình dân học vụ” trước đây ở mục tiêu nâng cao dân trí, nhưng trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số.
“Công nghệ thông tin giờ đây đã trở thành yêu cầu căn bản của mọi hoạt động đời sống và sản xuất. Tuy nhiên, nhiều người dân khi phải thao tác trên nền tảng số vẫn thấy lúng túng. Tôi lấy ví dụ như người bán hàng phải kê khai hóa đơn điện tử, thanh toán không tiền mặt… vẫn chưa thành thạo, giống như người dân khi xưa chưa biết cầm bút, viết một lá đơn. Đó chính là khoảng trống cần lấp đầy, là ‘vùng trắng’ cần phải được xóa bỏ”, GS cho biết.
Đây cũng là điểm cần được lưu ý khi triển khai chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới. Tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 (Quốc hội, 2026) đã thông qua chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mục tiêu đến năm 2030 bao gồm giảm nghèo đa chiều, tăng thu nhập và thu hẹp chênh lệch giữa các nhóm dân cư. Trong quá trình đó, phổ cập kỹ năng số sẽ trở thành một trong những giải pháp hỗ trợ người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội và mở rộng cơ hội phát triển.
Các nghiên cứu cho thấy kết nối và kỹ năng số có thể trở thành đòn bẩy giảm nghèo thực chất, nhưng đi cùng với các điều kiện cụ thể. Phân tích dữ liệu Điều tra tiếp cận nguồn lực hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) giai đoạn 2008-2016 cho thấy sử dụng Internet giúp thu nhập bình quân đầu người của hộ tăng khoảng 4,5 triệu đồng mỗi năm và giảm khoảng 4% khả năng rơi vào nghèo; tác giả khuyến nghị đưa phổ cập Internet và kỹ năng số cho người dân nông thôn, nhất là hộ khó khăn, vào các chương trình giảm nghèo (Phan, 2023). Tuy nhiên, đào tạo kỹ năng số không tự động mang lại việc làm tốt hơn. Một thử nghiệm có nhóm đối chứng tại Peru ghi nhận khóa đào tạo kỹ năng số giúp tăng khả năng làm việc trong lĩnh vực công nghệ sau hai năm, nhưng tác động lên việc làm chính thức và thu nhập khác nhau rõ rệt giữa các khóa học (Novella và c.s., 2026). Bài học rút ra là nội dung học phải gắn với nhu cầu cụ thể của người học và cơ hội sinh kế thực tế.
Đưa kỹ năng số đến từng địa phương
Tại Tuyên Quang, sau một năm triển khai “Bình dân học vụ số”, các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng số được triển khai rộng rãi, đa dạng hình thức. Tỉnh đã tổ chức 5 hội nghị, 3 lớp tập huấn cấp tỉnh và 56 lớp tập huấn ở cơ sở cho trên 26.700 lượt người, trang bị kiến thức chuyển đổi số, kỹ năng số và ứng dụng AI theo phương châm “cầm tay chỉ việc”, phù hợp từng nhóm đối tượng. Ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai đồng bộ các giải pháp tích hợp kỹ năng số vào chương trình giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy học, xây dựng môi trường học tập số toàn diện, giúp học sinh, sinh viên hình thành và phát triển kỹ năng số. Điểm sáng của phong trào là việc xây dựng và phát huy hiệu quả Tổ công nghệ số cộng đồng. Toàn tỉnh hiện có 2.030 Tổ công nghệ số cộng đồng cấp xã, thôn với 18.900 thành viên, giữ vai trò nòng cốt trong triển khai Phong trào “Bình dân học vụ số” ở cơ sở. Các tổ hoạt động theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người”, tập trung hỗ trợ người cao tuổi, lao động phổ thông sử dụng Internet, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử, bảo đảm an toàn số và chăm sóc sức khỏe trực tuyến, góp phần hình thành môi trường học tập và làm việc số tại địa phương (Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, 2025).

Tại Điện Biên, năm 2026, mục tiêu của phong trào “Bình dân học vụ số” được đặt ra toàn diện, cả về độ bao phủ lẫn chất lượng. Trên diện rộng, tỉnh phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức được bồi dưỡng kỹ năng số đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm; trên 80% người dân trưởng thành có khả năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến toàn trình; trên 70% hộ gia đình nông thôn biết khai thác các nền tảng số phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Ở chiều sâu, phong trào hướng tới hình thành tư duy số, thói quen số và văn hóa số trong cộng đồng. Hiện nay, tỷ lệ hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ đến khu vực dân cư như thôn, bản, tổ dân phố tại Điện Biên mới đạt khoảng 88,5%; tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh đạt khoảng 75%. Từ thực trạng đó, cần có chính sách hỗ trợ mở rộng mạng lưới tới địa bàn khó khăn; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia để hoàn thiện “điện trước - sóng theo sau”. Khi hạ tầng được phủ kín và kỹ năng được nâng lên, khoảng cách số sẽ dần được thu hẹp (KH&CN, 2026).
Giải pháp then chốt là nâng cao chất lượng đội ngũ “hạt nhân số” tại cộng đồng. Các tổ công nghệ số cộng đồng phải hoạt động thực chất. Việc “cầm tay chỉ việc” sẽ giúp người dân tự tin hơn khi tiếp cận công nghệ. Nội dung đào tạo cần thiết kế linh hoạt, sát với từng nhóm đối tượng. Với nông dân, tập trung hướng dẫn quảng bá, tiêu thụ sản phẩm trên sàn thương mại điện tử, sử dụng mạng xã hội để kết nối khách hàng. Với phụ nữ, người cao tuổi, chú trọng kỹ năng thanh toán không dùng tiền mặt. Với học sinh, thanh niên, tăng cường kỹ năng khai thác tài nguyên học tập số...
Do đó, triển khai “Bình dân học vụ số” trong mục tiêu giảm nghèo bền vững cần được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn. Phổ cập kỹ năng phải đi cùng hỗ trợ thiết bị và kết nối ở những nơi còn khó khăn; nội dung học phải phù hợp với từng nhóm dân cư; lực lượng hỗ trợ tại cơ sở phải đủ gần để “cầm tay chỉ việc” khi người dân cần. Quan trọng hơn, các địa phương cần đánh giá kết quả bằng những thay đổi trong khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội sinh kế của người dân.
Theo GS Vũ Minh Giang, điểm quan trọng của Bình dân học vụ số là giúp việc phổ cập tri thức số thành một phong trào xã hội, trong đó không chỉ cơ quan nhà nước mà cả cộng đồng cùng tham gia. “Cũng giống như phong trào xóa mù chữ trước đây, “Bình dân học vụ số” không phải là câu chuyện của riêng ngành giáo dục. Đây phải là quốc sách, cần sự vào cuộc đồng bộ của tất cả các bộ, ngành, địa phương. Trong tiến trình đó, giáo dục đào tạo đóng vai trò dẫn dắt, xây dựng chương trình, nhưng việc triển khai cần trách nhiệm của cả một hệ thống. Mỗi bộ, ban ngành, mỗi địa phương phải tự chịu trách nhiệm đào tạo nhân lực số trong phạm vi của mình.” GS chia sẻ.
Mục tiêu của phổ cập kỹ năng số là giúp người dân tự tin hơn khi tiếp cận một chính sách hỗ trợ, tìm được một cơ hội việc làm, đăng ký khóa học nghề, sử dụng dịch vụ y tế, tiếp cận giáo dục hoặc đưa sản phẩm đến thị trường. Khi đó, “Bình dân học vụ số” không chỉ là một phong trào phổ cập công nghệ. Đây có thể trở thành một phương thức giúp thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ xã hội, mở rộng cơ hội sinh kế và tăng khả năng tự chủ của người dân.
Nhìn tổng thể, khung chính sách hiện hành đã tạo được sự liên thông rõ nét giữa chuyển đổi số và giảm nghèo. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác lập chuyển đổi số là đột phá quan trọng; chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030 đưa việc sử dụng dịch vụ số vào thước đo thiếu hụt; Chương trình mục tiêu quốc gia hợp nhất giai đoạn 2026-2035 bảo đảm nguồn lực; còn phong trào “Bình dân học vụ số” là kênh đưa chính sách đến từng người dân (Bộ Chính trị, 2024; Chính phủ, 2025; Quốc hội, 2026). Điểm ưu việt của cách tiếp cận này là huy động sức mạnh cộng đồng, với lực lượng tổ công nghệ số ở từng thôn, bản, giống cách phong trào xóa mù chữ từng thành công. Bằng chứng trong nước cũng cho thấy hướng đi này có cơ sở, khi sử dụng Internet giúp hộ nông thôn tăng thu nhập và giảm nguy cơ nghèo (Phan, 2023).
Dù vậy, để kỹ năng số thực sự giúp người nghèo thoát nghèo, còn ba thách thức cần sớm giải quyết. Thứ nhất, hạ tầng và thiết bị chưa đồng đều: ở Điện Biên, cáp quang mới phủ khoảng 88,5% khu dân cư và khoảng một phần tư người dân chưa dùng điện thoại thông minh (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026). Thứ hai, kết quả phong trào hiện chủ yếu được đo bằng số lớp, số lượt người học, chưa đo được thay đổi về việc làm, thu nhập và khả năng tiếp cận dịch vụ của hộ nghèo. Thứ ba, lực lượng nòng cốt ở cơ sở như tổ công nghệ số cộng đồng, tình nguyện viên cần cơ chế bồi dưỡng và hỗ trợ để hoạt động bền bỉ (Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, 2026). Vì vậy, cần lồng ghép hỗ trợ thiết bị, kết nối vào hợp phần giảm nghèo của Chương trình mục tiêu quốc gia; bộ chỉ số đánh giá phong trào cần có chỉ báo về sinh kế của hộ nghèo. Bên cạnh đó, cần thêm các nghiên cứu đánh giá tác động tại Việt Nam, nhất là với hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số, để biết nội dung, hình thức đào tạo nào thực sự hiệu quả.
Tài liệu tham khảo:
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương. (2026). Kế hoạch số 94-KH/BTGDVTW ngày 28/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tiếp tục đẩy mạnh Phong trào “Bình dân học vụ số”. http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ke-hoach-so-94-kh-btgdvtw-ngay-28-5-2026-cua-ban-tuyen-giao-va-dan-van-trung-uong-trien-khai-mot-so-nhiem-vu-giai-phap-t.html
Bộ Chính trị. (2024). TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. xaydungchinhsach.chinhphu.vn. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm
Chính phủ. (2025). Nghị định số 351/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=216360
Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang. (2025). Tuyên Quang: Lan tỏa sâu rộng Phong trào “Bình dân học vụ số”. https://tuyenquang.dcs.vn/tin/dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia/tuyen-quang-lan-toa-sau-rong-phong-trao-binh-dan-hoc-vu-so
KH&CN (2026). Điện Biên tăng tốc triển khai “bình dân học vụ số”. Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. Cổng Thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ. https://mst.gov.vn/dien-bien-tang-toc-trien-khai-binh-dan-hoc-vu-so-197260722091244548.htm
Novella, R., Freund, R., & Rosas-Shady, D. (2026). Digital skills for better jobs: Experimental evidence from a bootcamp training program in Peru. Journal of Development Economics, 182, 103838. https://doi.org/10.1016/j.jdeveco.2026.103838
Phan, V.-P. (2023). Is the internet penetration pro-poor? Evidence from a panel data analysis. Telecommunications Policy, 47(8), 102612. https://doi.org/10.1016/j.telpol.2023.102612
Quốc hội. (2026). Nghị quyết số 46/2026/QH16 của Quốc hội: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=219332