Nghị định 353/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/11/2026, thay Nghị định 20/2014/NĐ-CP và quy định đồng thời ba lĩnh vực: phổ cập mầm non cho trẻ 5-6 tuổi, giáo dục bắt buộc ở tiểu học và trung học cơ sở, cùng xóa mù chữ. Đối tượng giáo dục bắt buộc gồm trẻ 6-14 tuổi chưa hoàn thành tiểu học và thanh thiếu niên 11-18 tuổi đã hoàn thành tiểu học nhưng chưa hoàn thành trung học cơ sở. Đây là thay đổi có ảnh hưởng toàn quốc vì nghĩa vụ học tập “được Nhà nước bảo đảm các điều kiện thực hiện” (Chính phủ, 2026a, 2026b).
Nghị định phân biệt hoàn thành chương trình với công nhận địa phương đạt chuẩn. Chuẩn được thiết kế theo hai mức hoàn thành và nâng cao; hồ sơ, cập nhật, kiểm tra và công nhận được thực hiện trên môi trường số khi hạ tầng đáp ứng. Dữ liệu cũ được kế thừa, không yêu cầu lập lại các bước đã hoàn thành. Quy định này có thể giảm hồ sơ và tăng khả năng theo dõi người học, nhưng chỉ hiệu quả nếu mã định danh, dữ liệu dân cư và dữ liệu trường học khớp nhau, có cơ chế sửa sai và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Điểm chính sách quan trọng nhất là chuyển trọng tâm từ tỷ lệ công nhận sang quyền học tập. Nghị định yêu cầu thực hiện “toàn diện, bền vững, có chất lượng” và ưu tiên vùng dân tộc thiểu số, miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn (Chính phủ, 2026b). Số liệu điều tra dân số 2023 cho thấy tỷ lệ đi học đúng tuổi THCS toàn quốc là 95,4%, nhưng Tây Nguyên là 90,8% và Đồng bằng sông Cửu Long 89,5%. Khoảng cách này cho thấy chuẩn quốc gia cần đi kèm phân bổ giáo viên, điểm trường, giao thông, hỗ trợ chi phí và chương trình linh hoạt theo địa bàn (Tổng cục Thống kê, 2024).
Nghị định 353 cũng phải phối hợp với Nghị định 277/2025/NĐ-CP về phổ cập mầm non 3-5 tuổi. Nếu mở rộng bao phủ mà thiếu giáo viên, phòng học và giám sát chất lượng, mục tiêu phổ cập có thể làm tăng sĩ số hoặc đẩy chi phí sang gia đình. UNESCO Institute for Statistics cho thấy Việt Nam có tiến bộ về tiếp cận nhưng dữ liệu kết quả học tập theo năm còn thiếu; do đó, công nhận phổ cập không nên được dùng thay cho đánh giá năng lực tối thiểu và chất lượng học tập (UNESCO UIS, 2025).
Việc triển khai cần theo dõi bốn nhóm chỉ số: trẻ ngoài nhà trường và nguy cơ bỏ học; chuyên cần và quay lại học; điều kiện giáo viên, cơ sở vật chất; cùng kết quả học tập tối thiểu. Cấp xã phải có danh sách người học cần hỗ trợ và quy trình phối hợp trường, gia đình, y tế, công tác xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên công khai dữ liệu phân tách theo giới, dân tộc, khuyết tật, vùng và mức sống; đồng thời kiểm tra chất lượng dữ liệu trước khi công nhận đạt chuẩn. Mục tiêu cuối không phải tăng số địa phương được gắn nhãn, mà là bảo đảm trẻ em thực sự hoàn thành giáo dục bắt buộc với năng lực học tập có ý nghĩa.
Tài liệu tham khảo
Chính phủ. (2025). Nghị định số 277/2025/NĐ-CP về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=215677&pageid=27160&typegroupid=4
Chính phủ. (2026a). Nghị định số 353/2026/NĐ-CP về phổ cập giáo dục mầm non, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=219470&pageid=27160
Tổng cục Thống kê. (2024). Kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2023. https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2024/12/Sach-BCBDDS_2023-Can2_compressed.pdf
UNESCO Institute for Statistics. (2025). SDG 4 country profile: Viet Nam. https://download.uis.unesco.org/SDG4/SDG4-Profile-Viet%20Nam.pdf
Báo Điện tử Chính phủ. (2026a, September 15). Tiêu chuẩn công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc. https://baochinhphu.vn/tieu-chuan-cong-nhan-dat-chuan-giao-duc-bat-buoc-102260915101310852.htm
Chính phủ. (2026b, September 18). Toàn văn Nghị định số 353/2026/NĐ-CP. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-so-353-2026-nd-cp-ve-pho-cap-giao-duc-mam-non-giao-duc-bat-buoc-xoa-mu-chu-119260915094101062.htm
Báo Điện tử Chính phủ. (2026b, October 31). Những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2026. https://baochinhphu.vn/nhung-chinh-sach-moi-co-hieu-luc-tu-thang-11-2026-102261031091922064.htm