Thứ Ba , 03/11/2026 , 01:49:38 GMT+7

Kiên cố hoá trường lớp, bảo đảm cơ hội học tập cho trẻ em vùng khó

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Hai, 02/11/2026, 20:14:31 GMT+7

Kiên cố hóa trường lớp chỉ phát huy giá trị khi đi cùng thiết bị, nước sạch, chỗ ở và đội ngũ. Với trẻ em vùng sâu, miền núi và biên giới, mỗi ngôi trường an toàn, đủ điều kiện dạy học chính là điểm tựa để duy trì việc học, phát triển năng lực và mở ra cơ hội thoát nghèo bền vững.

Phát biểu tại Lễ khởi công, động thổ đồng loạt các trường nội trú liên cấp biên giới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu ngành Giáo dục xây dựng trường học phải gắn liền với xây dựng môi trường giáo dục hiện đại, toàn diện. Bên cạnh việc dạy chữ, cần đặc biệt chú trọng dạy người, bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức, lòng yêu nước và ý thức kỷ luật cho học sinh. Nhà trường không chỉ là nơi dạy và học mà phải thực sự trở thành "ngôi nhà thứ hai" ấm áp cho các em; bảo đảm tốt nhất các điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh và an toàn thực phẩm, an toàn cuộc sống, đi lại để phụ huynh yên tâm khi gửi gắm con em mình.

Kết luận số 91-KL/TW ngày 12/8/2024 đặt mục tiêu kiên cố hóa 100% phòng học vào năm 2030. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 và Nghị quyết số 281/NQ-CP ngày 15/9/2025 tiếp tục yêu cầu ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới và hoàn thiện mạng lưới nội trú, bán trú. Đối với trường phổ thông nội trú tại xã biên giới, Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT còn yêu cầu hạ tầng điện, nước sạch, thoát nước, giao thông, viễn thông và khả năng ứng phó thiên tai (Bộ Chính trị, 2024, 2025; Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026; Chính phủ, 2025). Trong giai đoạn 2013-2023, đầu tư cơ sở vật chất trường học đã có chuyển biến rõ. Báo cáo tổng kết công tác xã hội hóa về kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên cho biết tỷ lệ phòng học kiên cố ở các cấp mầm non và phổ thông công lập là 65,9% vào năm 2013 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024).

Đến hết năm 2023, cả nước có 628.571 phòng học; 545.375 phòng trong số đó đã được kiên cố hóa, tương đương 86,6%, tăng 20,7 điểm phần trăm so với năm 2013 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024). Mức tăng này đáng ghi nhận, nhưng tỷ lệ bình quân quốc gia chưa phản ánh đầy đủ chênh lệch giữa các địa bàn và giữa phòng học văn hóa với phòng chức năng.

Nguồn lực xã hội hóa đã bổ sung đáng kể cho đầu tư công. Giai đoạn 2013–2023, hơn 300 tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân tham gia; khoảng 36.000 phòng học và 1.300 phòng công vụ được hỗ trợ, với tổng kinh phí ước khoảng 33.000 tỷ đồng và 521,9 ha đất dành cho công trình (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024). Tuy nhiên, xã hội hóa cần minh bạch, đúng nhu cầu và không thay thế trách nhiệm bảo đảm ngân sách tối thiểu của Nhà nước tại nơi khó huy động nguồn lực.

Kiên cố hóa trường lớp không kết thúc ở một mái nhà chắc chắn; mục tiêu cuối cùng là một môi trường giúp trẻ đến trường đều, học an toàn và tiến bộ.
Tạp chí giáo dục
Một lớp học vùng cao (Ảnh: Báo Chính phủ)

Những kết quả trên phản ánh sức mạnh của sự chung tay giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và cộng đồng. Ở địa bàn khó khăn, hỗ trợ ngoài ngân sách có thể giúp bổ sung phòng học, nhà công vụ và thiết bị. Song phân bổ phải dựa trên mức thiếu hụt thực tế, chi phí vận hành và khả năng duy trì công trình, tránh nơi dễ huy động tiếp tục được đầu tư trong khi điểm trường xa nhất vẫn thiếu điều kiện tối thiểu.

Theo báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ sáu tháng đầu năm 2026, các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập có 582.659 phòng học, trong đó 87% là phòng kiên cố. Toàn hệ thống vẫn thiếu 45.691 phòng học và 27.084 phòng chức năng; 6.477 phòng học còn phải nhờ, mượn. Tỷ lệ đáp ứng thiết bị dạy học tối thiểu bình quân mới đạt khoảng 50,6% (Hồng Hạnh, 2026). Như vậy, tăng số phòng kiên cố chưa đồng nghĩa với việc đã bảo đảm đủ điều kiện dạy học.

Thách thức hiện nay là hoàn thiện đồng bộ các điều kiện bảo đảm chất lượng. Một cơ sở có đủ phòng học nhưng thiếu phòng chức năng, thiết bị thực hành, nước sạch, khu vệ sinh, bếp ăn hoặc chỗ ở cho học sinh và giáo viên vẫn khó duy trì việc học và tổ chức dạy học có chất lượng. Tại Hội thảo quốc gia ngày 26/8/2025, Phó Thủ tướng Lê Thành Long cho biết vùng đồng bào dân tộc thiểu số có hơn 20.000 trường học, tăng khoảng 1.500 trường so với năm 2015; số trường phổ thông dân tộc nội trú tăng thêm 109 trường. Nhiều trường nội trú có tỷ lệ tốt nghiệp 100%; tỷ lệ chung thấp hơn mặt bằng cả nước khoảng 1–1,5 điểm phần trăm; khoảng 60% học sinh trường nội trú thi đỗ đại học (Đức Tuân, 2025). Các kết quả này cho thấy đầu tư trường lớp, mô hình tổ chức phù hợp và hỗ trợ học tập có thể tạo điều kiện để học sinh vùng khó đạt kết quả tích cực. Tuy nhiên, hội thảo cũng chỉ ra mạng lưới trường lớp chưa đồng bộ, chất lượng chưa đều, tỷ lệ học tiếp sau trung học cơ sở còn thấp và thiết bị vẫn thiếu. Do đó, không nên dùng một chỉ số tốt nghiệp hay trúng tuyển riêng lẻ để suy rộng thành hiệu quả chung của toàn bộ chính sách.

Một nghiên cứu hỗn hợp tại năm tỉnh ghi nhận một trường nội trú dân tộc ở Lào Cai như trường hợp “lệch chuẩn tích cực”: nguồn lực tốt, miễn phí và hỗ trợ có mục tiêu đi cùng kết quả học tập thuận lợi (Iyer et al., 2021). Bài học phù hợp hơn là cơ sở vật chất phải gắn với đội ngũ, hỗ trợ học sinh và quản trị chất lượng.

Nếu các thiếu hụt kéo dài, học sinh có thể phải học gián đoạn, đi lại xa, ít cơ hội thực hành và khó học tiếp. Hệ quả này có thể làm giảm khả năng tiếp cận đào tạo nghề và việc làm ổn định, qua đó duy trì bất lợi giữa các thế hệ. Đây là chuỗi rủi ro cần được theo dõi bằng dữ liệu về chuyên cần, bỏ học, kết quả học tập và chuyển tiếp, không nên mặc nhiên coi xây thêm phòng học là đã tạo ra tác động giảm nghèo.

Gắn đầu tư trường học với mục tiêu giảm nghèo bền vững

Sự khác biệt giữa địa phương cho thấy tỷ lệ kiên cố hóa chỉ là điểm khởi đầu. Tại Bắc Ninh, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 98% và gần 95% trường đạt chuẩn quốc gia (Thanh Tú, 2026). Ở Cao Bằng, 99,7% trong tổng số 6.381 phòng học đã kiên cố; tỉnh được bố trí 508,6 tỷ đồng nâng cấp cơ sở vật chất, trong đó 42,4 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Giai đoạn 2019-2025, hơn 88 tỷ đồng được huy động từ tổ chức, cá nhân để sửa chữa trường lớp và mua sắm thiết bị (Báo Cao Bằng, 2026). Tuy nhiên, Cao Bằng vẫn có 876 phòng phục vụ nội trú, bán trú mới đáp ứng khoảng 70% nhu cầu và còn thiếu 219 phòng ở. Trường hợp này cho thấy chỉ số phòng học kiên cố cao có thể cùng tồn tại với thiếu hụt chỗ ở và điều kiện phục vụ học tập.
Vì thế, tiêu chí ưu tiên đầu tư nên chuyển từ “địa phương nào chưa đạt tỷ lệ kiên cố” sang bộ chỉ báo phản ánh nhu cầu thực: số học sinh phải đi xa, mức thiếu phòng chức năng và chỗ ở, rủi ro thiên tai, tình trạng nước sạch - vệ sinh, thiết bị, kết nối số và chi phí vận hành. Cùng một khoản đầu tư, một tỉnh đông dân và một tỉnh miền núi có thể cần cấu phần hoàn toàn khác nhau.

Nỗ lực kết hợp ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội đã cải thiện rõ cơ sở vật chất tại nhiều địa bàn. Các thiếu hụt ở Cao Bằng cho thấy công trình chỉ phát huy tác dụng khi có đủ ký túc xá, phòng bộ môn, thư viện, khu vệ sinh, bếp ăn, thiết bị và kinh phí duy tu. Với trường nội trú liên cấp tại xã biên giới, thiết kế cần đồng thời đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt, an toàn thiên tai và khả năng tiếp cận của cộng đồng; không nên đánh giá hoàn thành chỉ bằng tiến độ xây dựng.

Đầu tư đúng không phải là xây nhiều trường nhất, mà là đặt trường đúng nơi, hoàn thiện đủ điều kiện và theo dõi trẻ có học đều, học tốt hơn hay không.

Kinh nghiệm quốc tế củng cố cách tiếp cận này nhưng không thể sao chép cơ học. Tổng quan của World Bank cho thấy xây mới hoặc cải tạo trường có thể cải thiện tiếp cận và kết quả học tập trong một số bối cảnh (World Bank, 2022). Tại Niger, gói “trường học thân thiện với trẻ em gái” gồm nhà vệ sinh tách biệt, nguồn nước và nhà ở cho giáo viên nữ làm tăng tỷ lệ nhập học 8,3 điểm phần trăm và giảm tình trạng vắng học kéo dài 7,9 điểm. Điểm tương đồng với vùng khó của Việt Nam là hạ tầng phải được thiết kế như một gói điều kiện học tập, không phải một khối phòng học đơn lẻ. Điểm khác là địa lý, cơ chế phân bổ và hệ thống nội trú của Việt Nam có đặc thù riêng.

Trong giai đoạn tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần cùng địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý về trường lớp, quãng đường đi học, nhu cầu nội trú - bán trú, nước sạch, thiết bị và rủi ro thiên tai để xếp thứ tự đầu tư. Ngân sách công phải bảo đảm phần tối thiểu ở vùng khó; nguồn xã hội hóa cần công khai tiêu chí lựa chọn, chi phí vận hành và trách nhiệm bảo trì. Sau đầu tư, cơ quan quản lý không chỉ nghiệm thu phòng học mà phải theo dõi chuyên cần, bỏ học, chuyển tiếp, kết quả học tập và chi phí trên mỗi học sinh. Khi đầu ra xây dựng được nối với kết quả giáo dục và sinh kế, kiên cố hóa trường lớp mới thực sự trở thành một chính sách giảm bất bình đẳng và giảm nghèo bền vững.

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với giáo dục vùng khó, nhất là tại các xã biên giới, thể hiện nhất quán quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm và không để bất kỳ trẻ em nào bị bỏ lại phía sau. Mỗi phòng học được kiên cố hóa, mỗi trường nội trú được xây dựng không chỉ tạo môi trường học tập an toàn mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, cải thiện sinh kế, giữ gìn bản sắc văn hóa và củng cố niềm tin của đồng bào. Ở nơi biên cương Tổ quốc, đầu tư cho giáo dục còn góp phần phát triển nguồn nhân lực, ổn định cộng đồng dân cư và bảo vệ chủ quyền quốc gia từ nền tảng con người. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Đã có trò, có thầy thì phải có trường”. Đây vừa là yêu cầu đối với công tác quy hoạch giáo dục, vừa là một cam kết chính trị và nhân văn: mọi trẻ em, dù sinh ra ở đâu, đều phải được học tập trong điều kiện an toàn, bình đẳng và có cơ hội kiến tạo tương lai bằng chính năng lực của mình.

Tài liệu tham khảo:

Báo Cao Bằng. (2026). Giáo dục Cao Bằng - Đổi mới để bứt phá và hội nhập (Bài 2). Báo Cao Bằng điện tử. https://baocaobang.vn/giao-duc-cao-bang-doi-moi-de-but-pha-va-hoi-nhap-bai-2-3182396.html

Bộ Chính trị. (2024). Kết luận số 91-KL/TW của Bộ Chính trị về thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. xaydungchinhsach.chinhphu.vn. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-ket-luan-cua-bo-chinh-tri-ve-thuc-hien-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc-va-dao-tao-119240815133542026.htm

Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. tulieuvankien.dangcongsan.vn. http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-71-nqtw-ngay-2282025-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-11771

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2024). Quyết tâm thực hiện mục tiêu kiên cố hoá 100% trường học vào năm 2030. moet.gov.vn. https://moet.gov.vn/giaoducquocdan/co-so-vat-chat-va-thiet-bi-truong-hoc/Pages/tin-tuc.aspx%3FItemID=9937

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026). Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông nội trú. http://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217128

Chính phủ. (2025). Nghị quyết số 281/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào đạo. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=215336

Đức Tuân. (2025). Phó Thủ tướng Lê Thành Long: Chính sách giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi tương đối toàn diện. baochinhphu.vn. https://baochinhphu.vn/pho-thu-tuong-le-thanh-long-chinh-sach-giao-duc-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-mien-nui-tuong-doi-toan-dien-10225082615484484.htm

Hồng Hạnh. (2026). Sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục: Sẽ điều chuyển trên 20.000 cán bộ quản lý sang làm việc khác. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/sap-xep-mang-luoi-co-so-giao-duc-se-dieu-chuyen-tren-20-000-can-bo-quan-ly-sang-lam-viec-khac-10424734.html

Iyer, P., Rolleston, C., & Huong, V. T. T. (2021). Equitable, Quality Education for Ethnic Minority Students? A Case of “Positive Deviance” in Vietnam. Comparative Education Review, 65(3), 467–492. https://doi.org/10.1086/714962

Thanh Tú. (2026). Giáo dục Bắc Ninh vững bước vào năm học mới. Báo Bắc Ninh. https://baobacninhtv.vn/giao-duc-bac-ninh-vung-buoc-vao-nam-hoc-moi-postid453598.bbg

World Bank. (2022). From School to Jobs: A journey for the young people of Western and Central Africa. World Bank. https://www.worldbank.org/en/region/afr/publication/afw-from-school-to-jobs-a-journey-for-the-young-people-of-western-and-central-africa

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận