Thu hẹp khoảng cách giáo dục, tháo gỡ rào cản nghèo đa chiều
Ở nước ta, giáo dục hòa nhập đã có nền tảng pháp lý tương đối rõ ràng. Luật Người khuyết tật năm 2010 dành riêng một chương cho giáo dục, quy định các ưu đãi về tuyển sinh, học phí, học bổng và phương tiện hỗ trợ học tập cho người khuyết tật (Quốc hội, 2010). Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030 tiếp tục coi giáo dục là một trong sáu chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, đo bằng trình độ giáo dục của người lớn và tình trạng đi học của trẻ em (Chính phủ, 2025). Cùng với đó, Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp giai đoạn 2026-2035, với khoảng 423.000 tỷ đồng cho giai đoạn 2026-2030 (Quốc hội, 2025).
Với trẻ em khuyết tật, trẻ em yếu thế, hành trình học tập có thể gặp trở ngại từ điều kiện đi lại, thiếu thiết bị hỗ trợ, học liệu chưa phù hợp, giáo viên chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng chuyên môn đến những khó khăn về chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng. Khi các dịch vụ xã hội chưa đáp ứng nhu cầu, gia đình thường phải tự xoay xở, trong khi thu nhập và điều kiện tiếp cận thông tin còn hạn chế.
Những bất lợi này khiến trẻ khó duy trì việc học, cơ hội hoàn thành các cấp học bị thu hẹp, khả năng tiếp cận giáo dục nghề nghiệp giảm và con đường tìm kiếm việc làm sau này trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, giáo dục hòa nhập không chỉ là vấn đề của ngành Giáo dục, mà còn gắn trực tiếp với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực.
Kết quả Điều tra người khuyết tật năm 2023 do Tổng cục Thống kê công bố cho thấy khoảng cách đáng kể trong tiếp cận giáo dục giữa trẻ em khuyết tật và trẻ em không khuyết tật. Tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em khuyết tật chỉ đạt 68,1% ở cấp tiểu học, 53% ở cấp trung học cơ sở và 30,8% ở cấp trung học phổ thông. Tỷ lệ người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề cũng chỉ đạt 8,8%, thấp hơn nhiều so với mức 25,4% ở người không khuyết tật (Cục Thống kê, 2024). Những con số này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận giáo dục hòa nhập trong mối liên hệ với toàn bộ hệ thống dịch vụ xã hội. Trong giai đoạn 2026-2030, khi chính sách giảm nghèo đa chiều tiếp tục hướng đến giảm thiếu hụt các dịch vụ cơ bản, việc bảo đảm cơ hội học tập cho trẻ em yếu thế cần được xem là một giải pháp dài hạn, giúp hạn chế nguy cơ nghèo đói và mở rộng cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân.
Cũng theo điều tra, năm 2023, tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em khuyết tật ở cấp tiểu học thấp hơn 27,1 điểm phần trăm so với trẻ em không khuyết tật; khoảng cách ở cấp trung học cơ sở là 37 điểm phần trăm và ở cấp trung học phổ thông lên tới 45,8 điểm phần trăm. Đáng chú ý, so với năm 2016, tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em khuyết tật giảm ở cả ba cấp học phổ thông. Trong khi đó, khả năng tiếp cận giáo dục còn chịu tác động của điều kiện kinh tế gia đình, khoảng cách địa lý, cơ sở vật chất, năng lực giáo viên, mức độ sẵn có của dịch vụ hỗ trợ và nhận thức xã hội. Với gia đình thuộc hộ nghèo, những chi phí phát sinh cho việc đi lại, học liệu, thiết bị trợ giúp hoặc chăm sóc sức khỏe có thể trở thành gánh nặng, khiến trẻ dễ gián đoạn học tập hơn. Xu hướng này không chỉ có ở Việt Nam. Trên thế giới, trẻ em khuyết tật có nguy cơ chưa từng đến trường cao hơn 49% và khả năng đạt kỹ năng đọc, tính toán cơ bản thấp hơn 42% so với trẻ em không khuyết tật (UNICEF, 2021).
Vì vậy, hỗ trợ giáo dục là bảo đảm trẻ có thể tiếp cận trường học, tham gia các hoạt động học tập và duy trì việc học đến khi hoàn thành chương trình phù hợp. Hòa nhập thực chất đòi hỏi nhà trường điều chỉnh môi trường, phương pháp giảng dạy, học liệu và cách đánh giá theo nhu cầu của người học; đồng thời phối hợp với gia đình và các dịch vụ chuyên môn. Với những trẻ cần hình thức giáo dục chuyên biệt hoặc kết hợp, việc lựa chọn cần dựa trên nhu cầu và quyền lợi của từng em, không trở thành lý do hạn chế cơ hội học tập.
— Khoản 1 Điều 27, Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12
Các nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy chất lượng hòa nhập phụ thuộc lớn vào điều kiện của nhà trường. Khảo sát tại các trường tiểu học khu vực Nam Trung Bộ ghi nhận cơ sở vật chất cho dạy học hòa nhập còn thiếu, đội ngũ tham gia giáo dục hòa nhập mỏng và một số giáo viên chưa được bồi dưỡng đủ để dạy lớp hòa nhập (Võ, 2023). Một nghiên cứu trường hợp với học sinh tiểu học khuyết tật vận động ở Việt Nam, công bố trên tạp chí quốc tế, chỉ ra các rào cản về hạ tầng, sự cô lập và bị bạn bè xa lánh; ngược lại, bồi dưỡng giáo viên, điều chỉnh phương pháp dạy, giáo dục nhận thức cho bạn cùng lớp và sự phối hợp chặt giữa gia đình với nhà trường là những yếu tố hỗ trợ hiệu quả (Pham, 2026).
Trong bối cảnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về giáo dục khuyết tật. Dự thảo tập trung điều chỉnh trách nhiệm quản lý theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục, tăng tính linh hoạt trong tổ chức dạy học và làm rõ việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người khuyết tật.
Việc phân định rõ trách nhiệm của chính quyền cơ sở và cơ quan giáo dục có thể tạo điều kiện phát hiện sớm trẻ chưa đến trường, trẻ có nguy cơ bỏ học hoặc gia đình cần hỗ trợ đặc thù. Địa phương cần rà soát nhu cầu của trẻ em khuyết tật, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi còn khó khăn về hạ tầng, để ưu tiên hỗ trợ phù hợp.
Kết nối giáo dục, y tế và việc làm để tạo sinh kế bền vững
Với trẻ em yếu thế, nhu cầu học tập có thể gắn liền với chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tư vấn tâm lý và thiết bị trợ giúp. Điều tra người khuyết tật năm 2023 ghi nhận tỷ lệ người khuyết tật có bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí đạt 95,7% (Cục Thống kê, 2024). Tuy nhiên, chỉ khoảng 25% trạm y tế được thiết kế phù hợp với người khuyết tật. Với những gia đình ở địa bàn xa trung tâm, chi phí đi lại, sự thiếu hụt nhân lực chuyên môn và khó khăn trong tiếp cận thông tin vẫn có thể là rào cản đáng kể.
Do đó, cần tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình, cơ sở y tế, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội. Nhà trường có thể nhận diện nhu cầu hỗ trợ học tập; cơ sở y tế cung cấp dịch vụ phù hợp; chính quyền hướng dẫn gia đình tiếp cận chính sách; các tổ chức xã hội tham gia tư vấn và hỗ trợ thiết bị khi có điều kiện. Cơ chế phối hợp này giúp chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ theo nhu cầu thực tế, giảm gánh nặng tự xoay xở cho những hộ nghèo có trẻ em khuyết tật.
Đào tạo nghề cho người khuyết tật, yếu thế cần xuất phát từ năng lực, sở thích, nhu cầu hỗ trợ và cơ hội việc làm thực tế. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần có phương pháp đào tạo linh hoạt, thiết bị phù hợp và kết nối với doanh nghiệp để mở rộng cơ hội thực hành, tuyển dụng. Công nghệ số, thương mại điện tử, dịch vụ trực tuyến, nghề thủ công và các lĩnh vực phù hợp khác có thể đem lại lựa chọn đa dạng, nhưng cần đi cùng đào tạo có chất lượng và môi trường làm việc tiếp cận được.
Đối với gia đình nghèo, hỗ trợ sinh kế cũng cần được triển khai song song. Khi cha mẹ dành phần lớn thời gian chăm sóc con, cơ hội làm việc và tăng thu nhập có thể bị thu hẹp. Việc kết nối với các chương trình hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, tư vấn việc làm và dịch vụ chăm sóc phù hợp có thể giúp giảm áp lực, tạo điều kiện để gia đình duy trì thu nhập mà vẫn bảo đảm quyền lợi của trẻ.
Trong giai đoạn 2026-2030, Nghị định số 351/2025/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn mới (Chính phủ, 2025), với ngưỡng thu nhập từ năm 2027 đến năm 2030 là 2,2 triệu đồng/người/tháng ở nông thôn và 2,8 triệu đồng/người/tháng ở đô thị, đồng thời tiếp tục xem xét mức thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Chính sách giảm nghèo giai đoạn này được đặt trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, hướng đến kết nối các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế và hỗ trợ các địa bàn khó khăn.
Trong khuôn khổ đó, các hoạt động hỗ trợ trẻ em khuyết tật và gia đình nghèo cần được xác định theo đúng đối tượng, nội dung và cơ chế của từng chính sách. Địa phương có thể xây dựng lộ trình hỗ trợ liên tục: duy trì việc học cho trẻ, tư vấn hướng nghiệp khi phù hợp, kết nối đào tạo nghề và việc làm, đồng thời hướng dẫn gia đình tiếp cận các dịch vụ an sinh. Hiệu quả cần được đánh giá không chỉ bằng số lượt hỗ trợ, mà còn qua tỷ lệ duy trì học tập, hoàn thành chương trình, chuyển tiếp lên cấp học cao hơn, tham gia đào tạo nghề và cải thiện điều kiện sống của hộ gia đình.
Nhìn tổng thể, khung chính sách hiện hành đã tạo nền tảng tương đối đầy đủ cho giáo dục hòa nhập. Luật Người khuyết tật xác lập quyền học tập và ưu tiên phương thức hòa nhập; chuẩn nghèo đa chiều mới tiếp tục đưa tình trạng đi học của trẻ em vào thước đo nghèo, giúp việc trẻ thất học được ghi nhận như một thiếu hụt cần hỗ trợ; chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp tạo cơ hội gom nguồn lực giáo dục, y tế và sinh kế về một đầu mối. Một số kết quả tích cực đã được ghi nhận: tỷ lệ người khuyết tật có bảo hiểm y tế khám chữa bệnh miễn phí tăng lên 95,7%, tỷ lệ trạm y tế được thiết kế phù hợp tăng từ 16,9% năm 2016 lên 24,8% năm 2023 (Cục Thống kê, 2024). Tuy nhiên, việc tỷ lệ đi học đúng tuổi của trẻ em khuyết tật giảm ở cả ba cấp học so với năm 2016 cho thấy chính sách chưa chuyển hóa đầy đủ thành cơ hội học tập thực tế.
Giáo dục hòa nhập cần được xem là một mắt xích quan trọng trong hệ thống dịch vụ xã hội, kết nối quyền được học tập với cơ hội phát triển năng lực và sinh kế. Muốn chính sách đi vào thực chất, cần bảo đảm nguồn lực cho trường học, nâng cao năng lực giáo viên, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Các chương trình mục tiêu quốc gia cũng cần được triển khai theo hướng bổ trợ lẫn nhau, tránh tình trạng có nhiều chính sách nhưng gia đình vẫn phải tự xoay xở để tiếp cận. Thách thức lớn nhất là đưa giáo viên, thiết bị và dịch vụ hỗ trợ đến từng trẻ sau khi sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp, khi đầu mối quản lý giáo dục khuyết tật ở cấp xã còn mới. Các địa phương nên lập danh sách trẻ khuyết tật trong độ tuổi đi học, gắn với dữ liệu hộ nghèo để theo dõi từ khi vào lớp 1 đến khi học nghề hoặc có việc làm. Bên cạnh đó, cần thêm nghiên cứu đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ đến tỷ lệ đi học, hoàn thành cấp học và việc làm của người khuyết tật, đặc biệt là lý giải vì sao tỷ lệ đi học đúng tuổi giảm trong giai đoạn 2016-2023. Công bằng xã hội là khi mỗi em có điều kiện cần thiết để phát triển năng lực và lựa chọn con đường phù hợp. Khi giáo dục hòa nhập được kết nối với an sinh xã hội, đào tạo nghề và việc làm, chính sách không chỉ giúp người dân vượt qua khó khăn trước mắt mà còn tạo điều kiện để họ chủ động xây dựng tương lai.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ. (2025). Nghị định số 351/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=216360
Cục Thống kê. (2024). Thông cáo báo chí về kết quả điều tra Người khuyết tật năm 2023. General Statistics Office of Vietnam. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2024/11/thong-cao-bao-chi-ve-ket-qua-dieu-tra-nguoi-khuyet-tat-nam-2023/
Pham, N. T. N. (2026). Inclusive Education for Vietnamese Primary School Children with Motor Disabilities: Challenges and Support | Revija za elementarno izobraževanje. https://journals.um.si/index.php/education/en/article/view/5366
Quốc hội. (2010). Luật số 51/2010/QH12 của Quốc hội: LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT. http://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=96045
Quốc hội. (2025). Nghị quyết 257/2025/QH15 của Quốc hội. CSDL quốc gia về pháp luật. https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-quyet-so-257-2025-qh15-phe-duyet-chu-truong-dau-tu-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-giam-ngheo-ben-vung-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-giai-doan-2026-2035--20313cb0-7b94-11f1-99a0-cbad75d63ee6
UNICEF. (2021). Nearly 240 million children with disabilities around the world, UNICEF’s most comprehensive statistical analysis finds. https://www.unicef.org/press-releases/nearly-240-million-children-disabilities-around-world-unicefs-most-comprehensive
Võ K. L. (2023). Thực trạng hoạt động dạy học hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường tiểu học khu vực Nam Trung Bộ. Tạp chí Giáo dục, 173–179.