Giáo dục - nền tảng của mục tiêu giảm nghèo đa chiều
Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, trong đó giai đoạn I được thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030. Theo Nghị quyết, đến năm 2030, Chương trình phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020; duy trì mức giảm tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước từ 1% đến 1,5% mỗi năm; đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%. Chương trình cũng đặt mục tiêu phấn đấu cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Quốc hội, 2025).
Giáo dục đóng vai trò vừa là một dịch vụ xã hội cơ bản cần được bảo đảm, vừa tạo nền tảng để người dân tiếp cận các cơ hội phát triển kinh tế. Đối với trẻ em, hoàn thành giáo dục bắt buộc giúp mở rộng khả năng học nghề và lựa chọn việc làm trong tương lai. Đối với người trưởng thành chưa biết chữ hoặc có trình độ học vấn thấp, xóa mù chữ có thể giúp họ từng bước tiếp cận thông tin, sử dụng dịch vụ công, quản lý chi tiêu và tham gia các hoạt động sản xuất hiệu quả hơn.
Nghị định số 353/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ. Nghị định xác định giáo dục tiểu học và trung học cơ sở là giáo dục bắt buộc, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục, ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Chính phủ, 2026).
Đáng chú ý, nghị định đặt yêu cầu thực hiện phổ cập và xóa mù chữ theo hướng toàn diện, bền vững, có chất lượng, phù hợp với điều kiện thực tiễn từng địa phương. Giá trị lớn nhất của việc gắn xóa mù chữ với mục tiêu giảm nghèo là khả năng mở rộng lựa chọn cho người dân. Khi biết đọc, biết viết và tiếp cận được thông tin, họ có thêm điều kiện tìm hiểu chính sách, bảo vệ quyền lợi, lựa chọn phương thức sản xuất và tìm kiếm cơ hội việc làm. Khi tiếp tục được đào tạo nghề và kết nối với thị trường, những năng lực nền tảng ấy có thể trở thành nguồn lực giúp gia đình cải thiện thu nhập.
Xóa mù chữ sẽ tạo ra cơ hội thoát nghèo khi người học có thể chuyển năng lực đọc, viết và tính toán thành quyết định sinh kế hằng ngày.
-
Thực tiễn tại Lào Cai cho thấy quy mô và tính chất của nhiệm vụ xóa mù chữ ở các địa bàn miền núi, nơi dân cư phân tán và điều kiện đi lại còn khó khăn. Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Lào Cai có diện tích trên 13.256 km², dân số gần 1,78 triệu người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 61,1%.
Năm 2025, toàn tỉnh có 1.046 cơ sở giáo dục, 1.362 điểm trường lẻ; tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 87,44%. Hệ thống 17 trường nội trú với 6.582 học sinh và 182 trường bán trú với 47.507 học sinh đã góp phần duy trì sĩ số vùng cao. Công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ đạt nhiều kết quả tích cực: trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 99,8%; trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,9%; tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 96,5%. Toàn tỉnh đã điều động hơn 1.000 lượt giáo viên hỗ trợ các trường học vùng khó khăn, huy động trên 12 tỷ đồng cải thiện điều kiện học tập (Thanh Chi, 2026).
Từ nền tảng phổ cập giáo dục, công tác xóa mù chữ cho người lớn tiếp tục được chú trọng, nhất là tại các xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Năm 2025, toàn tỉnh có 41 xã, phường tổ chức 74 lớp xóa mù chữ với gần 1.600 học viên tham gia; trong đó 1.461 học viên đã hoàn thành chương trình. Các lớp học được tổ chức linh hoạt tại nhà văn hóa thôn, điểm trường, bảo đảm điều kiện học tập thiết yếu (Thanh Chi, 2026).
Tại xã Khao Mang, nơi có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống, công tác xóa mù chữ luôn được địa phương quan tâm. Từ năm 2021 đến nay, các lớp học buổi tối được duy trì đều đặn, phù hợp với nhịp sinh hoạt của người dân.
Một hướng triển khai phù hợp là kết nối công tác xóa mù chữ với nhu cầu phát triển kinh tế của từng địa bàn. Tại nơi có thế mạnh về nông nghiệp, người học có thể tiếp tục được tiếp cận kiến thức về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản và sơ chế nông sản. Ở những nơi có tiềm năng du lịch cộng đồng, các chương trình đào tạo có thể hướng tới kỹ năng dịch vụ, giao tiếp, giới thiệu sản phẩm và quảng bá điểm đến. Với người có nhu cầu tìm việc làm ngoài nông nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đơn vị dịch vụ việc làm có thể tư vấn lựa chọn khóa học phù hợp với yêu cầu tuyển dụng.
Các nghiên cứu cho thấy cần chuyển từ xóa mù chữ cơ bản sang xóa mù chữ chức năng. Một nghiên cứu ở Việt Nam đề nghị thiết kế đồng bộ chính sách, chương trình, học liệu, đội ngũ, đánh giá và phối hợp liên ngành (Phương et al., 2025). Nghiên cứu tại Ethiopia cũng ghi nhận chương trình giáo dục người lớn tích hợp có thể hỗ trợ sản xuất, thu nhập, sức khỏe và sử dụng công nghệ, nhưng hiệu quả suy giảm khi quản lí và cách tổ chức thực hiện yếu (Oljira & Hailu, 2021). Đối chiếu này củng cố yêu cầu gắn bài học chữ với nhiệm vụ thật của người dân: đọc hướng dẫn kĩ thuật, tính chi phí, tiếp cận dịch vụ công và thực hiện giao dịch số.
Không để giáo dục dừng lại ở chỉ tiêu, không để giảm nghèo dừng lại ở hỗ trợ
Từ mục tiêu quốc gia đến thực tiễn địa phương, vấn đề nổi bật là cần chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ riêng lẻ sang một lộ trình phát triển liên tục cho người nghèo. Xóa mù chữ, giáo dục bắt buộc, đào tạo nghề và tạo sinh kế không phải những nhiệm vụ tách rời, mà là các khâu có thể bổ trợ cho nhau nếu được tổ chức đúng cách.
Trước hết, địa phương cần xác định chính xác nhóm đối tượng thiếu hụt giáo dục. Với trẻ em trong độ tuổi đi học, nhiệm vụ là bảo đảm các em được đến trường, duy trì chuyên cần và hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc. Với người trưởng thành chưa biết chữ, cần tổ chức lớp học phù hợp về thời gian, địa điểm và nội dung. Với người đã biết chữ nhưng có nguy cơ tái mù chữ, cần tạo môi trường duy trì kỹ năng và tiếp tục học tập.
Trên cơ sở đó, ngành Giáo dục cần phối hợp với cơ quan phụ trách giảm nghèo, đào tạo nghề và phát triển nông thôn để xác định những cơ hội học tập tiếp theo. Việc chuyển tiếp không nhất thiết phải chờ người học hoàn thành mọi chương trình giáo dục cơ bản mới bắt đầu hỗ trợ sinh kế. Trong những trường hợp phù hợp, các hoạt động có thể được triển khai song song, bảo đảm người dân không phải lựa chọn giữa việc học và nhu cầu tạo thu nhập trước mắt.
Cùng với đó, việc đánh giá kết quả cần dựa trên các chỉ số có ý nghĩa thực chất: số người thuộc diện cần hỗ trợ được tiếp cận; tỷ lệ hoàn thành chương trình; khả năng duy trì kỹ năng đọc, viết, tính toán; tình trạng đến trường của trẻ em; số lao động được kết nối với đào tạo nghề và việc làm; mức độ cải thiện thu nhập của hộ gia đình. Các chỉ số cụ thể cần được xác định theo quy định và hướng dẫn hiện hành, bảo đảm không đánh đồng số người tham gia với số người đạt kết quả.
Với khoảng 423.000 tỉ đồng ngân sách nhà nước bố trí cho Chương trình giai đoạn 2026-2030, trong đó 100.000 tỉ đồng từ ngân sách trung ương, khoảng 300.000 tỉ đồng từ ngân sách địa phương và khoảng 23.000 tỉ đồng vốn tín dụng chính sách, yêu cầu cốt lõi không phải chỉ là giải ngân mà là liên kết được các nguồn lực theo một lộ trình học tập - nghề nghiệp - sinh kế (Quốc hội, 2025). Kinh nghiệm nghiên cứu ở Rwanda cho thấy năng lực đọc viết liên hệ trực tiếp và gián tiếp với chất lượng sống, nhưng con đường chuyển hóa còn phụ thuộc vào việc làm, đất đai, thị trường và khả năng sử dụng kĩ năng trong đời sống (Mtika & Abbott, 2025). Vì vậy, không nên sao chép một mô hình quốc tế riêng lẻ; địa phương cần đồng thiết kế nội dung với người học, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tổ chức cộng đồng.
Về tổ chức thực hiện, mỗi địa bàn cần lập hồ sơ nhu cầu học tập theo nhóm dân cư; bố trí lớp linh hoạt theo mùa vụ; đưa kiến thức tài chính, số, pháp luật và kĩ thuật sản xuất vào bài học; đồng thời quy định rõ đầu mối chuyển tiếp người học sang đào tạo nghề, tín dụng chính sách và việc làm. Hệ thống giám sát phải theo dõi không chỉ số người hoàn thành chương trình mà cả mức duy trì đọc - viết - tính toán sau 6 và 12 tháng, tỷ lệ tiếp tục học nghề, khả năng tiếp cận dịch vụ công và biến động thu nhập. Cách đo này giúp tách kết quả giáo dục khỏi những thay đổi thu nhập do thời vụ hoặc hỗ trợ ngắn hạn, qua đó nhận diện sớm nguy cơ tái mù chữ, tái nghèo và điều chỉnh nguồn lực đúng nơi.
Tài liệu tham khảo:
Chính phủ. (2026). Nghị định số 353/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ. http://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=219470&classid=1&orggroupid=2
Oljira, T., & Hailu, M. (2021). Integrated functional adult education program and its contributions for livelihoods in Ethiopia. Heliyon, 7(8). https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2021.e07718
Phương M. T. P. M. T., Xuân B. T. X. B. T., & Trang H. H. T. H. H. (2025). Một số đề xuất về việc thực hiện xóa mù chữ chức năng cho người lớn ở Việt Nam. Tạp chí Giáo dục, 25(Số đặc biệt 11), 84-90.https://tcgd.tapchigiaoduc.edu.vn/index.php/tapchi/article/view/4826
Quốc hội. (2025). Nghị quyết 257/2025/QH15 của Quốc hội. CSDL quốc gia về pháp luật. https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-quyet-so-257-2025-qh15-phe-duyet-chu-truong-dau-tu-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-giam-ngheo-ben-vung-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-giai-doan-2026-2035--20313cb0-7b94-11f1-99a0-cbad75d63ee6
Thanh Chi. (2026,). Đảm bảo tiếp cận giáo dục công bằng trong giai đoạn mới. Báo Lào Cai điện tử. https://baolaocai.vn/dam-bao-tiep-can-giao-duc-cong-bang-trong-giai-doan-moi-post896237.html