Phân luồng giáo dục: Từ định hướng học tập đến cơ hội việc làm trong tương lai
Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở đã được đặt ra trong nhiều chính sách giáo dục của Việt Nam. Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 6/3/2025 ban hành kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 5/1/2024 của Bộ Chính trị, nhấn mạnh nhiệm vụ phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông đến năm 2030. Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông được tiếp cận dịch vụ hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp chuyên nghiệp; tỷ lệ thanh niên 15-25 tuổi học giáo dục nghề nghiệp đạt 20%. Những định hướng này cho thấy phân luồng cần được triển khai đồng bộ với việc bảo đảm quyền học tập, nâng cao chất lượng giáo dục và mở rộng cơ hội học tập cho các nhóm dân cư (Thủ tướng Chính phủ, 2025).
Tiếp đó, Thông tư số 16/2026/TT-BGDĐT ngày 24/3/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục, tạo thêm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức hoạt động hướng nghiệp, định hướng lựa chọn lộ trình học tập phù hợp (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026). Tuy nhiên, phân luồng chỉ thực sự có ý nghĩa khi học sinh được lựa chọn con đường phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện gia đình, thay vì bị đẩy sang học nghề vì không đủ điều kiện học tiếp trung học phổ thông. Giáo dục nghề nghiệp cần được nhìn nhận là một hướng phát triển có giá trị, chứ không phải lựa chọn sau cùng dành cho những học sinh có kết quả học tập chưa cao.
Cải cách mô hình giáo dục nghề nghiệp, bổ sung cấp trung học nghề tương đương cấp trung học phổ thông.
- Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị
Ở tầm chiến lược, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo yêu cầu chú trọng giáo dục hướng nghiệp và cải cách mô hình giáo dục nghề nghiệp (Bộ Chính trị, 2025). Điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung một cấp học dành cho người học muốn sớm theo nghề nhưng vẫn giữ cơ hội học lên.
Thực tiễn thị trường lao động cho thấy yêu cầu phân luồng thực chất càng cấp bách. Theo Cục Thống kê (2026) (Cục Thống kê, 2026), tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ trong quý III/2026 mới đạt 30,4%. Cùng thời điểm, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi là 9,07%, ở khu vực thành thị lên tới 12,49%; khoảng 1,6 triệu thanh niên, tương đương 11,2%, không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo. Những con số này cho thấy nhiều người trẻ đang bước vào thị trường lao động khi chưa có kỹ năng nghề được công nhận.
Trao đổi về vấn đề này, PGS.TS. Trần Xuân Nhĩ - Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh thực trạng xã hội còn có tâm lý mặc định đại học là con đường tốt nhất, trong khi thị trường lao động cần nhiều lao động kỹ thuật và người có tay nghề.
Ông khẳng định: “Năng lực, sở trường của mỗi học sinh không giống nhau. Muốn phân luồng thành công cần đổi mới nhận thức xã hội về nghề nghiệp và bằng cấp, đa dạng hóa mô hình trường phổ thông, tổ chức quản lý minh bạch và công bằng. Cơ hội phát triển của học sinh không nên bị giới hạn bởi định kiến xã hội về học nghề, cũng không nên bị quyết định bởi khả năng chi trả của gia đình. Một hệ thống giáo dục có khả năng phân luồng hiệu quả phải giúp người học tìm được con đường phù hợp, đồng thời bảo đảm cơ hội học tiếp, học nâng cao và chuyển đổi nghề nghiệp trong tương lai”.
Để phân luồng thực chất, PGS.TS Trần Xuân Nhĩ cho rằng, địa phương cần xây dựng hệ thống trường đa dạng: trường học thuật, trường kỹ thuật và trường nghề. Khi học sinh nhìn thấy những con đường rõ ràng, có tương lai, thì phân luồng mới thực chất.
Phân luồng cũng không nên trở thành sự phân định cố định về tương lai của học sinh. Người học cần có cơ hội học tiếp, học nâng cao và chuyển đổi nghề nghiệp khi điều kiện sống hoặc nhu cầu thị trường lao động thay đổi. Một hệ thống giáo dục có tính liên thông sẽ giúp các em không bị giới hạn cơ hội phát triển chỉ vì lựa chọn ban đầu hoặc hoàn cảnh kinh tế gia đình.
Kết quả nghiên cứu quốc tế ủng hộ cách tiếp cận này, nhất là với học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Phân tích dữ liệu PISA 2018 của hơn 188.000 học sinh 15 tuổi ở 29 quốc gia cho thấy hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến kỹ năng nhận thức, kỳ vọng học tập và động lực, nhưng chỉ ở nhóm học sinh thiệt thòi (Agasisti et al., 2025). Tổng quan 382 công trình trên cơ sở dữ liệu Scopus giai đoạn 1964-2022 cũng ghi nhận các nghiên cứu hướng nghiệp gần đây ngày càng quan tâm đến việc tạo cơ hội công bằng cho học sinh trong hiểu biết và ra quyết định nghề nghiệp (Phạm et al., 2022). Điều này gợi ý rằng đầu tư cho hướng nghiệp ở vùng khó khăn có thể mang lại hiệu quả xã hội lớn hơn so với mặt bằng chung.
Đưa hướng nghiệp đến vùng khó khăn, gắn trải nghiệm nghề với thực tiễn địa phương
Ở vùng sâu, vùng xa và các tỉnh miền núi, hướng nghiệp cần được tổ chức theo cách gần gũi với điều kiện sống, sản xuất và cơ hội phát triển của địa phương. Thay vì chỉ giới thiệu ngành nghề qua tài liệu hoặc các buổi tư vấn tại trường, học sinh cần được trực tiếp quan sát môi trường làm việc, tìm hiểu yêu cầu kỹ năng và trải nghiệm những hoạt động nghề nghiệp cụ thể.
Một số ví dụ tại các địa bàn miền núi cho thấy hướng tiếp cận này có thể được triển khai từ những mô hình kinh tế gần gũi với học sinh. Năm 2024, tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Quảng Trị, hoạt động định hướng nghề nghiệp được lồng ghép vào sinh hoạt đầu năm, chuyên đề, câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa và trải nghiệm. Ngay từ tuần đầu tiên của năm học lớp 10, học sinh đã được tiếp cận các nội dung liên quan đến nghề nghiệp để từng bước xây dựng kế hoạch học tập cho bản thân. Nhà trường cũng phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên thị xã Quảng Trị tổ chức dạy nghề cơ bản cho học sinh lớp 11, đồng thời kết nối các trường đại học, cao đẳng để tư vấn ngành học phù hợp với năng lực và hoàn cảnh của các em. Một số trường phổ thông dân tộc nội trú phối hợp với trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên tổ chức tư vấn, hướng nghiệp và dạy các nghề như may, làm vườn, điện dân dụng cho học sinh từ đầu lớp 8. Cách làm này giúp các em tiếp xúc với kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp trước khi đứng trước quyết định quan trọng sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở (Báo Nhân Dân điện tử, 2024).
Từ thực tiễn này, hướng nghiệp ở vùng khó khăn cần được tổ chức theo hướng tăng trải nghiệm và cá thể hóa tư vấn. Học sinh có thể tham quan cơ sở sản xuất, gặp gỡ người lao động, tìm hiểu quy trình làm việc hoặc tham gia các hoạt động thực hành đơn giản. Với địa bàn có thế mạnh về nông nghiệp, cây dược liệu, chế biến nông sản hay du lịch cộng đồng, việc giới thiệu nghề cần đi xa hơn khâu sản xuất ban đầu, giúp học sinh nhận diện cả những công việc liên quan đến kỹ thuật, bảo quản, kiểm soát chất lượng, quản lý, quảng bá sản phẩm và tiêu thụ trên thị trường.
Tại Gia Lai, yêu cầu kết nối này được đặt ra trong định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Ngày 19/4/2026, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh phối hợp với các địa phương, đơn vị trao đổi về thực trạng đào tạo nghề, năng lực đào tạo, ngành nghề chủ lực và kết quả đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn. Theo các chuyên gia, phân luồng giáo dục cần được thực hiện từ sớm và gắn với quy hoạch mạng lưới trường học, thay vì chỉ đặt ra khi học sinh hoàn thành bậc trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông. Hướng nghiệp ở vùng khó khăn càng cần gắn với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Khi học sinh được tiếp xúc với các mô hình sản xuất, cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp ngay từ khi còn học phổ thông, các em có cơ hội nhận biết rõ hơn mối liên hệ giữa kiến thức ở trường với yêu cầu của công việc (Báo Gia Lai điện tử, 2026). Tuy nhiên, trải nghiệm nghề chỉ thực sự có ý nghĩa khi được nối tiếp bằng thông tin đầy đủ về chương trình đào tạo, điều kiện tuyển sinh, chi phí học tập, khả năng tìm việc và cơ hội học lên sau khi hoàn thành một trình độ nghề.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu đổi mới cách tư vấn, đa dạng hóa các lựa chọn học tập tại địa phương. Nếu học sinh ở vùng sâu, vùng xa được khuyến khích học nghề nhưng phải đi xa, chịu chi phí lớn hoặc không có điều kiện tiếp cận cơ sở đào tạo phù hợp, quyền lựa chọn của các em vẫn còn hạn chế. Bởi vậy, cần có sự phối hợp giữa trường phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và gia đình để hình thành lộ trình học tập khả thi, phù hợp với hoàn cảnh của người học.
Nhìn tổng thể, khung chính sách về hướng nghiệp, phân luồng đã được hoàn thiện đáng kể trong hai năm qua. Từ Chỉ thị số 29-CT/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW đến Thông tư số 16/2026/TT-BGDĐT, phân luồng ngày càng được nhìn nhận là quá trình hỗ trợ học sinh lựa chọn lộ trình học tập dựa trên thông tin đầy đủ, thay vì chỉ là một chỉ tiêu. Thông tư đã quy định cụ thể nội dung hướng nghiệp, từ cung cấp thông tin nghề nghiệp, giúp học sinh hiểu bản thân đến trải nghiệm nghề tại nơi làm việc và ứng dụng công cụ số, trí tuệ nhân tạo (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2026). Việc bổ sung cấp trung học nghề mở thêm một con đường vừa học nghề vừa có cơ hội học lên, còn những mô hình như ở Quảng Trị cho thấy khi hướng nghiệp được tổ chức từ sớm và gắn với cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại chỗ, học sinh vùng khó khăn có thêm thông tin, trải nghiệm trước khi chọn hướng đi.
Khi nhà trường, gia đình, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ việc làm cùng tham gia, hướng nghiệp mới có thể trở thành cầu nối thực chất giữa giáo dục và sinh kế, góp phần hạn chế nguy cơ bỏ học, mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm và nâng cao khả năng thoát nghèo bền vững. Quan trọng hơn, mỗi học sinh đều cần có cơ hội lựa chọn con đường học tập và nghề nghiệp phù hợp với năng lực, nguyện vọng của mình, không bị giới hạn bởi hoàn cảnh kinh tế hoặc nơi cư trú. Thách thức hiện nay là nguồn lực để biến quy định thành hoạt động thực chất: bảo đảm đủ đội ngũ tư vấn đạt chuẩn ở từng trường, đưa cơ sở giáo dục nghề nghiệp đến gần khu dân cư và giảm chi phí học nghề cho hộ nghèo. Các địa phương nên ưu tiên bồi dưỡng giáo viên làm công tác tư vấn, mở rộng dạy nghề tại chỗ hoặc liên kết với trường phổ thông dân tộc nội trú, đồng thời hỗ trợ chi phí học nghề cho học sinh vùng khó khăn. Về lâu dài, cần các nghiên cứu theo dõi học sinh sau phân luồng để đánh giá việc làm, thu nhập và khả năng học tiếp của các em, làm cơ sở điều chỉnh chính sách.
Tài liệu tham khảo:
Agasisti, T., Pastor, J. M., Soler, Á., & Vicente, I. (2025). Career guidance to lessen inequalities in education: Internal evidence from OECD–PISA 2018 data. Education Economics, 33(3), 399–416. https://doi.org/10.1080/09645292.2024.2343069
Báo Gia Lai điện tử (2026). Định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề cho học sinh vùng đồng bào DTTS và miền núi. Báo Gia Lai điện tử. https://baogialai.com.vn/dinh-huong-nghe-nghiep-dao-tao-nghe-cho-hoc-sinh-vung-dong-bao-dtts-va-mien-nui-post584971.html
Báo Nhân Dân điện tử. (2024). Quảng Trị chú trọng hướng nghiệp cho học sinh người dân tộc thiểu số. Báo Nhân Dân điện tử. https://nhandan.vn/quang-tri-chu-trong-huong-nghiep-cho-hoc-sinh-nguoi-dan-toc-thieu-so-post833545.html
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026). Thông tư số 16/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Quy định về hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục. http://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217321
Cục Thống kê. (2026). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2026. General Statistics Office of Vietnam. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/10/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-lao-dong-viec-lam-quy-iii-va-9-thang-nam-2026/
Phạm T. H. H., Đỗ T. H. L., Lại P. L., & Đỗ T. T. (2022). Mô hình tăng trưởng và xu hướng nghiên cứu về hướng nghiệp ở trường phổ thông từ 1964 đến 2022: Phân tích thư mục với cơ sở dữ liệu Scopus. Tạp chí Giáo dục, 22(23), Article 23.
Thủ tướng Chính phủ. (2025). Quyết định số 525/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Bộ Chính trị về công tác phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông đến năm 2030. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=213072