Thứ Bảy , 31/10/2026 , 21:32:51 GMT+7

Chọn đúng mô hình, trao đúng sinh kế: Lời giải cho giảm nghèo giai đoạn 2026–2035

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Sáu, 30/10/2026, 22:16:04 GMT+7

Từ chuẩn nghèo đa chiều đến các mô hình sáng tạo ở Lào Cai, Đắk Song, Đồng Tháp, giảm nghèo bền vững đang chuyển từ hỗ trợ sang trao cơ hội: trao sinh kế, tạo việc làm và nâng năng lực tự vươn lên của người dân.

Chọn đúng mô hình, tạo sinh kế phù hợp cho từng hộ nghèo

Trong nhiều năm, giảm nghèo ở Việt Nam đã chuyển dần từ cách tiếp cận hỗ trợ đơn thuần sang giảm nghèo đa chiều, lấy khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và năng lực tự vươn lên của người dân làm một trong những trọng tâm.

Một dấu mốc quan trọng là Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 28/01/2021 của Chính phủ (2021) quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025. Trong giai đoạn 2021-2025, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 (Thủ tướng Chính phủ, 2022), với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững; hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo mới; hỗ trợ người nghèo vượt lên mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Chương trình đặt mục tiêu tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1-1,5%/năm, đồng thời phấn đấu hỗ trợ xây dựng, nhân rộng trên 1.000 mô hình, dự án giảm nghèo về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch, khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh nhằm tạo sinh kế, việc làm và thu nhập bền vững (Chính phủ, 2022). Cách tiếp cận này cho thấy một nguyên tắc quan trọng: muốn giảm nghèo bền vững phải đồng thời giải quyết cả “cái thiếu” trước mắt và “năng lực” để người dân tự tạo thu nhập về lâu dài.

Cách tiếp cận đa chiều đã mang lại kết quả rõ rệt. Theo Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo (2025), tỷ lệ hộ nghèo đa chiều cả nước dự kiến còn khoảng 0,9–1,1% vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số vẫn ở mức khoảng 12,55%, cao gấp hơn mười lần mức chung. Khoảng cách này cho thấy phần việc khó nhất của giảm nghèo vẫn còn ở phía trước, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, nơi người dân thiếu cả nguồn lực lẫn năng lực tự vươn lên.

Bước vào giai đoạn 2026–2035, giảm nghèo được đặt trong một khung chính sách mới: chuẩn nghèo cao hơn, chương trình hợp nhất và nguồn lực tập trung cho nơi khó nhất. Ngày 15/4/2026, Thủ tướng Chính phủ (2026) đã ban hành Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách của địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

Đặc biệt, Quốc hội (2026) đã thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất bốn chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Nghị quyết tiếp tục xác định mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, gắn với an sinh xã hội, phát triển kinh tế nông thôn và thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, nhóm dân cư.

Một điểm mới đáng chú ý khác là chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 được quy định tại Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 (Chính phủ, 2025). Từ năm 2027, chuẩn nghèo tiếp tục được đo lường trên cả thu nhập và mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, gồm việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin, nước sinh hoạt, vệ sinh và môi trường. Năm 2026 là năm chuyển tiếp, tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo giai đoạn 2022-2025 để làm căn cứ xác định đối tượng và triển khai chính sách.

Như vậy, chính sách đang đi theo hướng ngày càng rõ hơn: không chỉ đưa một hộ gia đình ra khỏi danh sách hộ nghèo, mà phải giúp họ có khả năng duy trì cuộc sống ổn định và hạn chế nguy cơ tái nghèo.

"Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm sự tích hợp về chương trình đi liền với tích hợp về chính sách, nguồn lực, dữ liệu, tổ chức thực hiện và trách nhiệm giải trình; lấy người dân làm trung tâm, lấy kết quả giảm nghèo thực chất và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân làm thước đo"

Trần Thị Hoa Ry, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội

(Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, 2026).

Từ khung chính sách chung, hiệu quả giảm nghèo phụ thuộc rất lớn vào cách tổ chức thực hiện tại cơ sở. Thực tế cho thấy, những nơi làm tốt thường không dừng ở việc phân bổ nguồn lực mà tìm cách gắn nguồn lực với nhu cầu cụ thể của từng nhóm hộ, từng địa bàn.

Tại Lào Cai, cách làm tập trung nguồn lực cho những địa bàn khó khăn là một ví dụ đáng chú ý. Năm 2021, tỉnh ban hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 đối với 10 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao. Đây là những xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 40%, được xác định là những “xã lõi nghèo” cần ưu tiên nguồn lực (TTXVN, 2023).

Điểm đáng chú ý của cách làm này là địa phương không chỉ đầu tư cơ sở hạ tầng mà còn triển khai các dự án phát triển sản xuất phù hợp điều kiện từng nơi như trồng măng sặt, chăn nuôi bò, ngựa, lợn đen sinh sản, liên kết trồng gừng trâu xuất khẩu, trồng chè Shan hay cây ăn quả.

Tạp chí giáo dục
Người dân xã Dền Thàng lên rừng thu hoạch măng sặt. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN).

Quan trọng hơn, Lào Cai gắn trách nhiệm của đội ngũ lãnh đạo, cán bộ với địa bàn cụ thể. Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Đặng Xuân Phong từng nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên nguồn lực cao nhất cho 10 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất; tỉnh cũng phân công các Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành giúp đỡ các xã này (TTXVN, 2023).

Cách làm của Lào Cai cho thấy một bài học: giảm nghèo muốn đi vào thực chất cần xác định đúng nơi khó nhất, đúng nhóm cần hỗ trợ nhất và gắn trách nhiệm cụ thể với người tổ chức thực hiện.

Một mô hình khác có cách tiếp cận khá trực tiếp là mô hình “5+1” tại huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông (cũ). Theo mô hình này, 5 cán bộ, đảng viên được phân công giúp một hộ dân thoát nghèo. Sau 4 năm triển khai (2020 – 2024), mô hình đã hỗ trợ hàng trăm hộ nghèo vươn lên và tạo hiệu ứng lan tỏa tại địa phương (Báo Nhân Dân, 2024).

Điểm đáng chú ý của “5+1” không nằm ở con số năm người hỗ trợ một hộ, mà ở cách đưa việc giảm nghèo từ một nhiệm vụ chung thành trách nhiệm cụ thể. Cán bộ, đảng viên không chỉ vận động mà còn phải tìm hiểu hoàn cảnh hộ dân, xác định nguyên nhân nghèo và cùng gia đình lựa chọn hướng sản xuất phù hợp.

Tạp chí giáo dục
Mô hình nuôi dê thoát nghèo tại xã Đắk Môl giúp các hộ nghèo thoát nghèo bền vững. Ảnh: Báo Nhân dân.

Chẳng hạn, với những hộ thiếu đất sản xuất, khó khăn về vốn hoặc chưa có kinh nghiệm làm ăn, việc hỗ trợ cần khác với hộ đã có đất nhưng thiếu kỹ thuật, thiếu đầu ra. Một mô hình nuôi dê, chăn nuôi gia súc hay phát triển cây trồng chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với điều kiện thực tế của từng gia đình.

Từ “hỗ trợ” sang tạo năng lực tự vươn lên

Nhìn từ các chính sách và mô hình trên, có thể thấy điểm chung của những cách làm hiệu quả là sự kết hợp giữa hỗ trợ và trao năng lực. Nguồn lực Nhà nước vẫn đóng vai trò nền tảng, nhất là ở những địa bàn khó khăn, nơi người dân không đủ khả năng tự đầu tư ban đầu. Nhưng nguồn lực ấy cần được tổ chức để tạo ra sinh kế, việc làm, kỹ năng và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội, thay vì chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt.

“Không dừng lại ở việc nhận diện khó khăn, mà quan trọng hơn là cùng nhau tìm ra cách làm mới, chính sách mới và cơ chế mới để không để ai bị bỏ lại phía sau; đồng thời tạo điều kiện để người dân có khả năng vươn lên chủ động làm giàu, phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống"

Trần Thị Hoa Ry, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội Việt Nam

(Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, 2026).


Tín dụng chính sách là một ví dụ. Nguồn vốn ưu đãi giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các nhóm chính sách có thêm điều kiện đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm. Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, nếu vốn vay được kết hợp với hướng dẫn kỹ thuật, lựa chọn mô hình phù hợp và theo dõi việc sử dụng vốn, hiệu quả giảm nghèo sẽ rõ hơn.

Đồng Tháp cho thấy tín dụng chính sách phát huy hiệu quả khi gắn với kế hoạch phát triển của từng địa phương, trong 6 tháng đầu năm 2026, nguồn vốn tín dụng chính sách đã góp phần hỗ trợ đầu tư sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm cho 19.992 lao động; đồng thời hỗ trợ 1.027 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Đồng Tháp Dương Văn Hoàng cho biết đơn vị xem tín dụng chính sách xã hội là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong triển khai thực hiện tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt quan tâm gắn triển khai tín dụng chính sách với các chương trình, mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi cơ cấu kinh tế của mỗi địa phương trong từng giai đoạn (Báo Chính phủ, 2026).

Kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế củng cố nhận định này. Nghiên cứu theo dõi khoảng 300 hộ tại Ninh Bình trong ba năm cho thấy vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội giúp tăng thu nhập của hộ, nhưng chưa cải thiện rõ tiêu dùng do quy mô khoản vay còn nhỏ; khoảng cách tới điểm giao dịch, chất lượng dịch vụ hỗ trợ và tính minh bạch trong rà soát hộ nghèo là những rào cản chính (Duong & Antriyandarti, 2021). Ở quy mô quốc tế, thử nghiệm tại sáu quốc gia với hơn 10.000 người tham gia cho thấy khi tài sản sản xuất được kết hợp với đào tạo kỹ thuật, hướng dẫn thường xuyên và hỗ trợ tiết kiệm, thu nhập và tiêu dùng của các hộ cực nghèo vẫn được cải thiện sau khi chương trình kết thúc (Banerjee và cộng sự, 2015). Hai kết quả này cho thấy vốn là cần thiết nhưng chưa đủ; vốn phải đi cùng tri thức, kỹ năng và sự đồng hành.

Từ góc độ này, giảm nghèo bền vững có thể được nhìn như một chuỗi liên kết: xác định đúng đối tượng → hỗ trợ đúng nhu cầu → tạo kỹ năng và sinh kế → kết nối việc làm, thị trường → tăng thu nhập → nâng khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội → phòng ngừa tái nghèo.

Trong chuỗi đó, giáo dục và đào tạo giữ vị trí đặc biệt. Một đứa trẻ được duy trì việc học có thêm cơ hội thoát khỏi vòng nghèo đói của gia đình. Một lao động được học nghề phù hợp có thêm cơ hội việc làm. Một người dân được trang bị kỹ năng sản xuất, kỹ năng số hay kiến thức thị trường sẽ có nhiều khả năng biến nguồn vốn hỗ trợ thành thu nhập lâu dài. Bằng chứng trong nước cũng cho thấy điều này: phân tích dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư giai đoạn 2014–2018 ghi nhận lao động dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề có tiền lương bình quân cao hơn khoảng 40% so với lao động chưa qua đào tạo (Do và cộng sự, 2020).

Đó cũng là lý do giảm nghèo đa chiều không thể tách khỏi việc giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người. Khi một hộ được hỗ trợ nhà ở nhưng vẫn thiếu việc làm; có vốn nhưng thiếu kỹ thuật; có sản phẩm nhưng không có thị trường; hoặc có thu nhập nhưng con cái bỏ học, nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu.

Giai đoạn mới vì thế đặt ra yêu cầu không chỉ “giảm bao nhiêu hộ nghèo”, mà cần quan tâm hơn đến câu hỏi: người dân đã có năng lực gì sau quá trình hỗ trợ và họ có thể tự duy trì cuộc sống ổn định hay chưa?

Tại cuộc tọa đàm về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026-2035 do Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội và Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội tổ chức ngày 21/9/2026 (Dương Lê, 2026), các đại biểu cũng đề xuất nhiều giải pháp, kiến nghị cụ thể và có tính khả thi cao. Theo đó, để tiếp tục nâng cao chất lượng và tính bền vững của công tác giảm nghèo trong giai đoạn tới, cần tiếp tục đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện chính sách theo hướng chuyển mạnh từ hỗ trợ trực tiếp sang tạo cơ hội, nâng cao năng lực và phát huy khả năng tự vươn lên của người nghèo.

Đây có lẽ là hướng đi quan trọng nhất để những chính sách giảm nghèo thực sự tạo ra thay đổi lâu dài. Bởi đích đến của giảm nghèo không chỉ là đưa một gia đình ra khỏi một danh sách, mà là giúp họ có việc làm, sinh kế, tri thức, kỹ năng và khả năng tự chủ để không quay trở lại điểm xuất phát.

Những mô hình như Lào Cai, Đắk Song hay Đồng Tháp cho thấy khi chính sách được gắn với điều kiện thực tế, trách nhiệm cụ thể và sự chủ động của người dân có thể tạo ra giá trị vượt ngoài một khoản hỗ trợ. Đó chính là cơ sở để những kinh nghiệm phù hợp tiếp tục được tổng kết, hoàn thiện và nhân rộng trong giai đoạn mới.

Nhìn tổng thể, chính sách giảm nghèo của Việt Nam đã có bước chuyển rõ về tư duy và công cụ. Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026–2030 được nâng lên, tiếp tục đo cả thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Chính phủ, 2025). Việc hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 giúp khắc phục tình trạng nguồn lực phân tán, còn nguyên tắc ưu tiên ngân sách trung ương ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn bảo đảm nguồn lực đến đúng nơi khó nhất (Quốc hội, 2026; Thủ tướng Chính phủ, 2026). Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống quanh mức 1% vào cuối năm 2025 là minh chứng cho hiệu quả của cách tiếp cận này (Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, 2025).

Dù vậy, giai đoạn mới vẫn đặt ra không ít thách thức. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; chính sách vẫn phân tán theo ngành và còn khoảng cách giữa diện được hưởng chính sách với khả năng tiếp cận thực tế, như các đại biểu tại tọa đàm của Quốc hội đã chỉ ra (Dương Lê, 2026; Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo, 2025). Vì vậy, cần thiết kế gói hỗ trợ theo từng nhóm hộ, kết hợp vốn với đào tạo nghề, hướng dẫn kỹ thuật và kết nối thị trường, đồng thời theo dõi việc làm, thu nhập của hộ sau khi thoát nghèo để phòng ngừa tái nghèo. Về nghiên cứu, cần có thêm các đánh giá tác động có nhóm đối chứng đối với những mô hình như “5+1” hay tín dụng gắn với đào tạo, làm căn cứ lựa chọn và nhân rộng mô hình hiệu quả.

Tài liệu tham khảo:

Banerjee, A., Duflo, E., Goldberg, N., Karlan, D., Osei, R., Parienté, W., Shapiro, J., Thuysbaert, B., & Udry, C. (2015). A multifaceted program causes lasting progress for the very poor: Evidence from six countries. Science, 348(6236), Article 1260799. https://doi.org/10.1126/science.1260799 https://www.science.org/doi/10.1126/science.1260799?referrer=https%3A%2F%2Fwww.google.com%2F

Chính phủ. (2021). Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 28/01/2021 quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025. https://luatvietnam.vn/chinh-sach/nghi-dinh-07-2021-nd-cp-chuan-ngheo-da-chieu-giai-doan-2021-2025-197848-d1.html

Chính phủ. (2025). Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026–2030. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=216360

Do, H. T. H., Mai, C. N., Mai, A. N., Nguyen, N. D., Pham, T. N., Le, H. T. T., Tran, M. D., & Vu, T. T. (2020). Impact of vocational training on wages of ethnic minority labors in Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(6), 551–560. https://doi.org/10.13106/jafeb.2020.vol7.no6.551 https://www.researchgate.net/publication/342565979_Impact_of_Vocational_Training_on_Wages_of_Ethnic_Minority_Labors_in_Vietnam

Duong, A., & Antriyandarti, E. (2021). The impact of the Vietnam Bank for Social Policies preferential credit on household welfare in Vietnam: A panel data analysis. Journal of Economics and Development, 24(1), 18–32. https://doi.org/10.1108/JED-08-2020-0109

Dương Lê. (2026, ngày 21 tháng 9). Phát triển sinh kế, tạo cơ hội việc làm để giảm nghèo bền vững. Báo Đại biểu Nhân dân. https://daibieunhandan.vn/phat-trien-sinh-ke-tao-co-hoi-viec-lam-de-giam-ngheo-ben-vung-10431248.html

Quốc hội. (2026). Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=219332

Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021–2025. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205180

Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg ngày 15/4/2026 quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217834

Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo. (2025, ngày 30 tháng 12). Tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 1% vào cuối năm 2025. Chuyên trang Giảm nghèo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. https://mae.gov.vn/site-Chuyentranggiamngheo/chinh-sach--huong-dan/ty-le-ho-ngheo-con-khoang-1-vao-cuoi-nam-2025-81.htm

Báo Chính phủ. (2026). Phát huy hiệu quả tín dụng chính sách, tạo sinh kế bền vững cho người dân https://baochinhphu.vn/phat-huy-hieu-qua-tin-dung-chinh-sach-tao-sinh-ke-ben-vung-cho-nguoi-dan-102260709102701616.htm

Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. (2026) Tọa đàm về thực trạng công tác giảm nghèo hiện nay và các giải pháp thực hiện công tác giảm nghèo bền vững giai đoạn 2026 – 2035 https://quochoi.vn/hoidongdantoc/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=724

Báo Nhân dân. (2024) Hiệu quả Mô hình 5+1 ở Đắk Song https://nhandan.vn/hieu-qua-mo-hinh-51-o-dak-song-post792503.html

TTXVN. (2023) Lào Cai: "Chìa khóa" thoát nghèo cho người dân 10 xã lõi nghèo https://www.vietnamplus.vn/lao-cai-chia-khoa-thoat-ngheo-cho-nguoi-dan-10-xa-loi-ngheo-post846978.vnp

Chính phủ. (2022). Quyết định số 90/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2021-2025 với mục tiêu giảm nghèo bền vững, đa chiều. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=2051

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận