Giảm nghèo đa chiều, bền vững không chỉ là bảo đảm nguồn lực hỗ trợ trước mắt mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân có năng lực tự tạo việc làm, tăng thu nhập và chủ động cải thiện sinh kế. Trong tiến trình đó, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội việc làm. Những chính sách mới về hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thanh niên đang mở ra yêu cầu gắn đào tạo với nhu cầu thực tế của người học và thị trường lao động.
Từ ngày 1/1/2026, Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15 (Quốc hội, 2025) có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý mới cho lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Cùng với đó, Nghị định 338/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ (Chính phủ, 2025a) quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm cũng được triển khai, trong đó đào tạo nghề được đặt trong tổng thể các chính sách hỗ trợ việc làm. Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số 95/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp, trong đó có chương trình, chuẩn đầu ra tối thiểu và tổ chức đào tạo (Chính phủ, 2026a).
Sự gắn kết này cho thấy đào tạo nghề nằm trong chuỗi phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm. Với người lao động có thu nhập thấp, nhất là ở khu vực nông thôn, một nghề phù hợp có thể mở thêm cơ hội việc làm, nâng năng suất lao động hoặc tạo sinh kế mới.
Định hướng này tiếp tục được thể hiện tại Quyết định 328/QĐ-TTg ngày 24/2/2026 phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”. Việc tiếp tục dành một chương trình riêng cho đào tạo nghề nông thôn cho thấy chất lượng nguồn nhân lực khu vực này đang được đặt trong bài toán phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao thu nhập của người dân. Chương trình đặt mục tiêu tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 85%, tức là lấy việc làm, không lấy số lớp học, làm thước đo.
Đặt trong bối cảnh chuẩn nghèo được xác định theo hướng đa chiều, yêu cầu này càng thể hiện rõ. Nghị định 351/2025/NĐ-CP về chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 tiếp tục xác định nghèo trên cả phương diện thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (Chính phủ, 2025b). Việc nâng cao năng lực nghề nghiệp, mở rộng cơ hội việc làm và tăng khả năng tạo thu nhập là một trong những điều kiện quan trọng để người dân cải thiện sinh kế, giảm nguy cơ tái nghèo.
Thực tế cho thấy dư địa của đào tạo nghề còn rất lớn. Quý II/2026, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của cả nước mới đạt 29,8% (VietnamPlus, 2026). Nói cách khác, cứ 10 lao động thì khoảng 7 người chưa có bằng cấp, chứng chỉ nghề, và tỷ lệ này càng thấp ở nhóm lao động nông thôn, hộ nghèo – những người cần một nghề nhất để có thu nhập ổn định.
Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực, mở rộng cơ hội việc làm (Ảnh: Báo Chính phủ)
Ngày 29/9/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng tải dự thảo Thông tư hướng dẫn tổ chức thực hiện hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động ở khu vực nông thôn và người lao động là thanh niên. Một trong những nội dung đáng chú ý là yêu cầu xác định nhu cầu trước khi tổ chức đào tạo. Người lao động có thể lựa chọn nghề quen thuộc, dễ tiếp cận hoặc đang có lớp đào tạo tại địa phương. Trong khi đó, doanh nghiệp lại cần những kỹ năng khác. Nếu quá trình đào tạo chỉ chạy theo nguyện vọng trước mắt mà thiếu thông tin về nhu cầu sử dụng lao động, rất dễ xảy ra tình trạng người lao động được học nghề nhưng doanh nghiệp vẫn thiếu nhân lực. Vì vậy, điều cần thiết là phải nhận diện được địa phương đang cần nguồn nhân lực ở đâu, doanh nghiệp cần những vị trí nào, hợp tác xã đang thiếu kỹ năng gì và những ngành kinh tế nào có khả năng tạo việc làm trong thời gian tới.
Một khoá học chỉ có ý nghĩa lâu dài với người dân khi kỹ năng được chuyển hoá thành cơ hội việc làm, khả năng tăng thu nhập và năng lực duy trì sinh kế.
Đây cũng là lúc vai trò của doanh nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp cần được phát huy rõ hơn. Nghị định 308/2026/NĐ-CP ngày 05/8/2026 (Chính phủ, 2026b) đã quy định các chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp, trong đó có hợp tác với cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển kỹ năng nghề. Nghị định cũng có cơ chế hỗ trợ kinh phí đào tạo trong một số trường hợp, trong đó có đào tạo trình độ sơ cấp cho người yếu thế và các ngành, nghề ưu tiên hoặc khó xã hội hóa.
Nếu chính sách hỗ trợ đào tạo nghề muốn tạo tác động thực chất, mối liên kết giữa người lao động - cơ sở giáo dục nghề nghiệp - doanh nghiệp cần được hình thành ngay từ đầu. Người lao động cần biết mình học để làm gì và cơ hội việc làm sau đào tạo ở đâu. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải tổ chức chương trình phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia xác định nhu cầu kỹ năng và tạo cơ hội sử dụng lao động.
Cách làm này cần thiết đối với lao động nông thôn và thanh niên. Với những người đang gắn với sản xuất, một khóa học được tổ chức ngay tại địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc nơi sản xuất có thể phù hợp hơn với điều kiện thực tế. Người học không phải bỏ quá nhiều thời gian, chi phí đi lại hoặc gián đoạn sinh kế để tham gia đào tạo.
Phát biểu tại Hội thảo chuyên đề “Hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm”, nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp, PGS.TS Vũ Thị Tú Anh - Phó Cục trưởng, Cục Giáo dục Nghề nghiệp và Giáo dục Thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng: “Chúng ta không nên chỉ đếm số biên bản ghi nhớ; hãy đo tỷ lệ chương trình có doanh nghiệp đồng xây dựng, chất lượng thực hành, việc làm đúng nghề, sự hài lòng của doanh nghiệp và mức độ họ tiếp tục đặt hàng đào tạo. Chính những chỉ số đó mới phản ánh giá trị mà hợp tác mang lại cho người học.”
Đặt trong mục tiêu giảm nghèo bền vững, cách tiếp cận này gợi mở yêu cầu đánh giá chính sách đào tạo nghề từ kết quả mà người học thực sự nhận được. Một khóa học chỉ có ý nghĩa lâu dài khi kỹ năng được chuyển hóa thành cơ hội việc làm, khả năng tăng thu nhập và năng lực duy trì sinh kế. Vì vậy, bên cạnh hỗ trợ kinh phí và tổ chức đào tạo, cần tăng cường kết nối người học với doanh nghiệp, hợp tác xã và các nguồn lực hỗ trợ sản xuất, bảo đảm người dân có điều kiện vận dụng kiến thức vào thực tế.
Kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế ủng hộ cách tiếp cận lấy đầu ra làm thước đo. Tổng hợp hơn 200 đánh giá các chương trình thị trường lao động chủ động cho thấy tác động của đào tạo thường nhỏ trong ngắn hạn, nhưng tăng rõ sau hai đến ba năm (Card và c.s., 2018). Rà soát các thử nghiệm tại các nước đang phát triển cũng ghi nhận tác động của đào tạo nghề lên việc làm và thu nhập nhìn chung còn khiêm tốn so với kỳ vọng và chi phí (McKenzie, 2017). Trong khi đó, tại Việt Nam, lao động dân tộc thiểu số đã qua đào tạo nghề có tiền lương bình quân cao hơn khoảng 40% so với lao động chưa qua đào tạo (Do và c.s., 2020). Các kết quả này cho thấy đào tạo nghề có thể là đòn bẩy giảm nghèo thực chất, nhưng chỉ khi được thiết kế sát nhu cầu thị trường và được theo dõi đủ lâu.
Chúng ta không nên chỉ đếm số biên bản ghi nhớ; hãy đo tỷ lệ chương trình có doanh nghiệp đồng xây dựng, chất lượng thực hành, việc làm đúng nghề, sự hài lòng của doanh nghiệp và mức độ họ tiếp tục đặt hàng đào tạo. Chính những chỉ số đó mới phản ánh giá trị mà hợp tác mang lại cho người học. PGS.TS Vũ Thị Tú Anh
Đào tạo nghề hướng đến tạo sinh kế bền vững cho người dân
Năm 2026, các Chương trình mục tiêu quốc gia bước vào giai đoạn tổ chức thực hiện theo định hướng mới. Tại Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 (Quốc hội, 2026) đã thông qua chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, hợp nhất các chương trình trước đây, trong đó có xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong tổng thể này, đào tạo nghề cần được kết nối với những chính sách tạo việc làm, hỗ trợ sản xuất, tín dụng và phát triển thị trường. Thiếu những mắt xích này, đào tạo nghề rất dễ trở thành một chính sách hỗ trợ “một lần”: Nhà nước hỗ trợ kinh phí, người dân tham gia, khóa học kết thúc, nhưng con đường tạo thu nhập vẫn chưa được giải quyết.
Đây là điều cần lưu ý với những nhóm có nguy cơ tái nghèo. Những rào cản về vốn, thông tin việc làm, thị trường tiêu thụ, phương tiện đi lại hay điều kiện sản xuất cũng có thể khiến một kỹ năng mới chưa thể ngay lập tức trở thành sinh kế.
Mục tiêu của giảm nghèo bền vững không phải là để người dân nhận được hỗ trợ nhiều hơn, mà là để họ từng bước có đủ năng lực tạo ra thu nhập và giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ. Trong quá trình đó, giáo dục nghề nghiệp có thể tạo ra một nền tảng quan trọng. Nhưng để nền tảng ấy phát huy tác dụng, chính sách hỗ trợ học nghề cần đi xa hơn việc đưa người lao động vào lớp học. Đó là khả năng sử dụng kỹ năng trong thực tế.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn và thanh niên cần hướng tới mục đích là tạo một công việc có thu nhập ổn định, một mô hình sản xuất hiệu quả hay một hướng đi tự chủ trên chính quê hương mình. Khi các chính sách mới của giai đoạn 2026-2030 bắt đầu đi vào cuộc sống, việc kiên trì định hướng "đào tạo theo nhu cầu thị trường" cùng sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp sẽ là động lực quan trọng. Đó là một trong những con đường thiết thực nhất để người dân vượt qua nghèo đa chiều, vươn lên làm chủ sinh kế và đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của xã hội.
Nhìn tổng thể, khung chính sách về giáo dục nghề nghiệp gắn với việc làm và giảm nghèo đã được hoàn thiện khá đồng bộ trong giai đoạn 2025–2026. Luật Giáo dục nghề nghiệp và các nghị định hướng dẫn tạo hành lang pháp lý mới; Nghị định số 338/2025/NĐ-CP đặt hỗ trợ học nghề trong tổng thể chính sách việc làm; Quyết định số 328/QĐ-TTg lấy tỷ lệ có việc làm sau đào tạo làm thước đo; Nghị định số 308/2026/NĐ-CP có cơ chế hỗ trợ cụ thể để doanh nghiệp tham gia đào tạo (Chính phủ, 2025a, 2026b; Quốc hội, 2025; Thủ tướng Chính phủ, 2026). Điểm ưu việt là chính sách đã nhìn đào tạo nghề như một mắt xích của chuỗi việc làm – thu nhập – giảm nghèo, phù hợp với bằng chứng quốc tế rằng hiệu quả của đào tạo cần được đánh giá trong trung và dài hạn (Card và c.s., 2018)
Dù vậy, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi vượt qua được một số thách thức. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ mới khoảng 29,8% (VietnamPlus, 2026); đào tạo ở nhiều nơi vẫn chạy theo nghề quen thuộc, chưa dựa trên dự báo nhu cầu; liên kết với doanh nghiệp có nguy cơ hình thức, như cảnh báo về việc chỉ đếm số biên bản ghi nhớ. Vì vậy, cần sớm xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động ở cấp tỉnh, cấp xã; theo dõi việc làm, thu nhập của người học sau 6-12 tháng; và đưa các chỉ báo này vào đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035. Do đó, Việt Nam cần thêm các đánh giá tác động có nhóm đối chứng đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn và hộ nghèo, để biết nghề nào, hình thức nào thực sự giúp người dân thoát nghèo bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Card, D., Kluve, J., & Weber, A. (2018). What Works? A Meta Analysis of Recent Active Labor Market Program Evaluations. Journal of the European Economic Association, 16(3), 894–931. https://doi.org/10.1093/jeea/jvx028
Chính phủ. (2026b). Nghị định số 308/2026/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp và Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=219099
Do, H. T. H, Do, H. T. H, Mai, A. N., Nguyen, N. D., Pham, T. N., Le, H. T. T, Tran, M. D., & Vu, T. T. (2020). Impact of Vocational Training on Wages of Ethnic Minority Labors in Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(6), 551–560.
McKenzie, D. (2017). How Effective Are Active Labor Market Policies in Developing Countries? A Critical Review of Recent Evidence. The World Bank Research Observer, 32(2), 127–154. https://doi.org/10.1093/wbro/lkx001
Quốc hội. (2026). Nghị quyết số 46/2026/QH16 của Quốc hội: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=219332