Từ chính sách giảm nghèo đa chiều đến hành động ở cơ sở
Ngày 17/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3282/QĐ-BNNMT kèm Kế hoạch truyền thông về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2030. Kế hoạch chọn chủ đề năm 2026 là “Đồng bộ chính sách – Thống nhất hành động” và yêu cầu truyền thông đi trước một bước, vừa phổ biến chính sách, vừa tiếp nhận phản ánh từ cơ sở (Bộ Nông nghiệp và Môi trường [BNNMT], 2026b).
Định hướng này nằm trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035; giai đoạn I thực hiện từ năm 2026 đến hết năm 2030. Chương trình ưu tiên địa bàn khó khăn, hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; đồng thời yêu cầu tăng phân cấp gắn với công khai, giám sát và trách nhiệm giải trình (BNNMT, 2026a).
Chính sách giảm nghèo giai đoạn mới tiếp tục tiếp cận nghèo đa chiều, không chỉ dựa vào thu nhập mà còn xem xét mức thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Nghị định số 351/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/2/2026; chuẩn giai đoạn 2022–2025 tiếp tục được áp dụng đến hết ngày 31/12/2026, còn chuẩn mới được dùng từ năm 2027 (Chính phủ, 2025).
Từ yêu cầu đó, truyền thông giảm nghèo không chỉ dừng ở việc phổ biến chính sách mà hướng tới giúp người dân biết chính sách nào mình được hưởng, cách tiếp cận ra sao và làm thế nào để biến hỗ trợ thành sinh kế, việc làm và thu nhập bền vững.

Truyền thông chính sách theo cách “dễ hiểu, dễ làm”
Theo Quyết định số 3282/QĐ-BNNMT, truyền thông chính sách phải được triển khai đa nền tảng, lấy người dân làm trung tâm và phù hợp với từng địa bàn, nhóm đối tượng. Với Sơn La, yêu cầu này đặc biệt quan trọng ở vùng cao, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi khoảng cách địa lý, ngôn ngữ và kỹ năng số có thể làm giảm khả năng tiếp cận thông tin (BNNMT, 2026b).
Tinh thần “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm” được chuyển tải theo hướng cụ thể, dễ hiểu, giúp cán bộ cơ sở và người dân nắm rõ quyền lợi, trách nhiệm, đồng thời chủ động tham gia vào quá trình thực hiện chính sách. Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với công tác giảm nghèo, khi hiệu quả chính sách không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực hỗ trợ mà còn ở khả năng người dân tiếp cận, sử dụng nguồn lực và phát huy nội lực để vươn lên.
Thực tiễn tại Sơn La cho thấy, công tác truyền thông về giảm nghèo ngày càng được triển khai đa dạng, từ hội nghị, tập huấn, tuyên truyền trên báo chí, phát thanh, truyền hình đến truyền thông cơ sở và các nền tảng số. Nội dung không chỉ phổ biến chính sách mà còn giới thiệu mô hình sản xuất hiệu quả, cách làm hay, gương điển hình vươn lên thoát nghèo, đồng thời phản ánh những khó khăn, nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của người dân trong quá trình phát triển sinh kế.
Đáng chú ý, tỉnh chú trọng đưa thông tin đến đúng địa bàn, đúng nhóm đối tượng thông qua tổ truyền thông cộng đồng, người có uy tín, già bản, trưởng bản, nghệ nhân. Với lợi thế am hiểu địa bàn, phong tục và ngôn ngữ của cộng đồng, lực lượng này góp phần chuyển tải chính sách theo cách gần gũi, dễ tiếp nhận, nhất là ở những nơi điều kiện tiếp cận thông tin còn hạn chế.
Kết quả nghiên cứu củng cố hướng tiếp cận này. Bùi Lệ Quyên (2025) cho rằng truyền thông chính sách trong bối cảnh đa văn hóa cần phối hợp nhiều chủ thể, nâng năng lực cán bộ, đổi mới hình thức và chú ý ngôn ngữ, văn hóa của cộng đồng. Một khảo sát 450 người thuộc các dân tộc thiểu số ở tám tỉnh cũng ghi nhận chênh lệch đáng kể về khả năng tiếp cận và sử dụng truyền thông giữa vùng thuận lợi và vùng sâu, vùng xa (Nguyen & Nguyen, 2026). Vì vậy, truyền thông số cần đi cùng truyền thông trực tiếp, phát thanh cơ sở và người có uy tín; không nên mặc định rằng đăng tải trên mạng đồng nghĩa với người dân đã tiếp cận và hiểu chính sách.
Trong giai đoạn 2021–2025, tỉnh cho biết 100% cán bộ thực hiện công tác giảm nghèo các cấp đã được bồi dưỡng, tập huấn kiến thức và kỹ năng cơ bản (Công an tỉnh Sơn La, 2025). Đây là đầu vào cần thiết, nhưng hiệu quả truyền thông cần được đo thêm bằng tỷ lệ người dân hiểu đúng quyền lợi, hoàn tất thủ tục, tiếp cận hỗ trợ và duy trì sinh kế sau hỗ trợ, thay vì chỉ đếm số lớp hoặc số lượt tuyên truyền.
Từ thực tiễn sản xuất, nhiều hộ dân đã chủ động tiếp cận khoa học - kỹ thuật, chuyển đổi phương thức sản xuất, tham gia các mô hình kinh tế phù hợp với lợi thế địa phương và tìm hiểu thông tin thị trường để nâng cao hiệu quả. Những thay đổi này cho thấy truyền thông chính sách không chỉ giúp người dân “biết chính sách”, mà quan trọng hơn là “biết cách thực hiện chính sách” và biến nguồn lực hỗ trợ thành năng lực tự vươn lên.
Trong giai đoạn 2026–2030, nội dung truyền thông cần ngắn gọn, trực quan và phù hợp từng nhóm đối tượng; đồng thời phải chỉ rõ đầu mối, điều kiện, hồ sơ và thời hạn tiếp cận hỗ trợ. Việc kể câu chuyện mô hình chỉ có giá trị khi nêu được điều kiện áp dụng, chi phí, rủi ro và kênh tiêu thụ, tránh biến trường hợp điển hình thành thông điệp quảng bá khó nhân rộng.
Từ hỗ trợ sinh kế đến tạo năng lực tự vươn lên
Thực tiễn triển khai chính sách giảm nghèo ở Sơn La những năm qua cho thấy, hỗ trợ sinh kế gắn với lợi thế địa phương là một hướng đi quan trọng.
Đến hết năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 10,89%, giảm 3,28 điểm phần trăm so với năm 2023; bình quân giai đoạn 2021–2025 giảm trên 3%/năm theo báo cáo của địa phương (Công an tỉnh Sơn La, 2025). Các con số cho thấy xu hướng tích cực, nhưng chưa đủ để quy toàn bộ kết quả cho riêng hoạt động truyền thông; tác động còn phụ thuộc vào tín dụng, đào tạo nghề, hạ tầng, thị trường và chất lượng hỗ trợ sinh kế.
Một số mô hình cho thấy cách tiếp cận này có thể tạo ra những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân. Chẳng hạn, các dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị từng được triển khai tại Vân Hồ với măng tre Bát Độ, tại Sông Mã với chăn nuôi bò sinh sản, tại Mường La với cây dược liệu thảo quả và sản phẩm thủy sản. Điểm chung là hỗ trợ không chỉ dừng ở con giống, cây giống mà hướng tới liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Cà phê cũng là một ví dụ rõ nét về việc khai thác lợi thế địa phương để tạo sinh kế. Sơn La đã hình thành vùng sản xuất cà phê Arabica quy mô lớn, từng bước phát triển sản xuất theo các tiêu chuẩn bền vững, đồng thời thúc đẩy chế biến và liên kết tiêu thụ. Nhiều hộ dân đã chuyển đổi cây trồng, nâng giá trị sản phẩm và cải thiện thu nhập từ cà phê.
Ở góc độ khởi nghiệp, Báo Sơn La ghi nhận mô hình cây ăn quả công nghệ cao của anh Bùi Việt Hùng tại bản Hoàng Văn Thụ, xã Hua La, quy mô 1,2 ha, có hệ thống tưới ẩm. Năm 2024, gia đình thu hoạch gần 40 tấn quả các loại và thu khoảng 600 triệu đồng sau chi phí (Thu Thảo, 2025). Trường hợp này minh họa vai trò của tập huấn kỹ thuật và chủ động học hỏi, nhưng cần theo dõi thêm tính ổn định của đầu ra, chi phí đầu tư và khả năng nhân rộng đối với hộ nghèo.[TBT6]
Gắn giảm nghèo với phát triển kinh tế địa phương
Trong giai đoạn 2026-2030, Sơn La tiếp tục định hướng truyền thông các mô hình sản xuất gắn với thế mạnh của địa phương như cây ăn quả, chè, cà phê, chăn nuôi đại gia súc, sản phẩm OCOP, cùng các mô hình du lịch nông thôn, du lịch cộng đồng tại Mộc Châu, Vân Hồ và nhiều địa bàn khác.
Cách làm này đặt công tác truyền thông trong mối quan hệ trực tiếp với phát triển kinh tế: truyền thông chính sách để người dân hiểu; giới thiệu mô hình để người dân học hỏi; kết nối sản xuất và thị trường để tạo thu nhập; từ đó hình thành động lực tự vươn lên thoát nghèo.
Đây cũng là tinh thần phù hợp với định hướng của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, trong đó nguồn lực phải được sử dụng đúng mục tiêu, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, gắn với phân cấp và trách nhiệm giải trình.
Chính quyền gần dân, chính sách sát thực tiễn
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã trực tiếp tiếp nhận nhu cầu, hướng dẫn thủ tục và theo dõi việc thực hiện tại địa bàn. Vì vậy, truyền thông chính sách phải đi cùng năng lực giải thích, xử lý phản hồi và công khai tiến độ của cán bộ cơ sở; nếu chỉ tăng số lượng sản phẩm truyền thông mà không cải thiện khâu phục vụ, khoảng cách từ “biết chính sách” đến “tiếp cận được chính sách” vẫn còn lớn.
Kế hoạch truyền thông quốc gia giai đoạn 2026–2030 yêu cầu tập huấn kỹ năng truyền thông chính sách và truyền thông số cho lực lượng thực hiện; đồng thời xây dựng sản phẩm hỏi - đáp, cơ sở dữ liệu mở và cơ chế tiếp nhận phản ánh từ báo chí, mạng xã hội, người dân và doanh nghiệp (BNNMT, 2026b).
Từ “truyền đạt chính sách” sang “đồng hành cùng người dân”, công tác truyền thông giảm nghèo ở Sơn La đang được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn: đưa chính sách đến đúng người, đúng nhu cầu; đồng thời đưa những mô hình hiệu quả từ thực tiễn trở thành kinh nghiệm để nhân rộng.
Đích đến không chỉ là giảm một con số hộ nghèo, mà hướng tới nâng khả năng tự chủ về sinh kế, việc làm, thu nhập và tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, tạo nền tảng để người dân vùng cao, vùng DTTS từng bước thoát nghèo bền vững và chủ động tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Từ góc độ nghiên cứu, mối liên hệ giữa truyền thông và thoát nghèo không nên được hiểu theo tuyến tính. Phân tích 240 hộ dân tộc thiểu số tại Sơn La cho thấy đa dạng hóa sinh kế có đóng góp tích cực đối với giảm nghèo; lựa chọn sinh kế còn chịu ảnh hưởng của học vấn, lao động trong hộ, khả năng tiếp cận tín dụng, tham gia hội, chính sách hỗ trợ và đào tạo nghề (Ho et al., 2024). Nghiên cứu ở vùng núi Tây Bắc Nghệ An cũng cho thấy hộ nghèo và cận nghèo bị hạn chế đồng thời về vốn con người, đất đai, tài sản sản xuất và tiết kiệm; giải pháp cần kết hợp nâng năng lực, tiếp cận đất và tín dụng với đa dạng hóa sinh kế theo điều kiện thị trường (Tran & Truong, 2026). Như vậy, truyền thông chỉ tạo tác động bền vững khi được đặt trong một gói hỗ trợ có trình tự: hiểu chính sách, được tư vấn lựa chọn, tiếp cận nguồn lực, học kỹ thuật, kết nối thị trường và được hỗ trợ xử lý rủi ro.
Để chuyển từ truyền thông một chiều sang đồng hành cùng người dân, mỗi xã nên lập bản đồ nhóm cần tiếp cận và nhu cầu thông tin theo thôn, bản; công bố đầu mối, điều kiện, hồ sơ và thời hạn của từng chính sách; tổ chức đối thoại định kỳ bằng hình thức phù hợp với ngôn ngữ và thói quen tiếp nhận của cộng đồng. Cùng với số lượt tin, bài hoặc tập huấn, cần theo dõi bốn nhóm chỉ số: mức độ hiểu đúng chính sách; tỷ lệ hoàn tất hồ sơ; tỷ lệ tiếp cận được hỗ trợ; và kết quả sinh kế sau 6–12 tháng. Các mô hình được truyền thông phải nêu cả chi phí, điều kiện thành công, rủi ro, thất bại và đầu ra thị trường. Cách làm này vừa giúp người dân ra quyết định thực tế, vừa tạo dữ liệu để chính quyền điều chỉnh chính sách, lựa chọn mô hình có khả năng nhân rộng và bảo đảm nguồn lực giảm nghèo được sử dụng minh bạch, đúng đối tượng.
Tài liệu tham khảo
Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026a). Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/01/2026 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035, giai đoạn I: 2026–2030. https://botruong.mae.gov.vn/noidung/Lists/VanBanDieuHanh/Attachments/85/417-Q%C4%90-BNNMT.pdf
Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026b). Quyết định số 3282/QĐ-BNNMT ngày 17/8/2026 ban hành Kế hoạch truyền thông về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2030. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Quyet-dinh-3282-QD-BNNMT-2026-truyen-thong-Chuong-trinh-xay-dung-nong-thon-moi-721390.aspx
Bùi Lệ Quyên. (2025). Vai trò của truyền thông chính sách về đa văn hóa với giảm nghèo thông tin ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam. Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, 31(3). https://doi.org/10.66057/llcttt-29833
Chính phủ. (2025). Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026–2030. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=216360&pageid=27160&typegroupid=4
Công an tỉnh Sơn La. (2025). Sơn La giảm 3%/năm tỷ lệ hộ nghèo, vượt chỉ tiêu đề ra. https://congan.sonla.gov.vn/son-la-giam-3-nam-ty-le-ho-ngheo-vuot-chi-tieu-de-ra/
Ho, N. N., Lai, P. T., Truong, T. C. A., Hoang, V. H., Do, T. T., & Nguyen, T. (2024). The contribution of livelihood diversification activities to poverty reduction of ethnic minority households: A case study in Son La Province, Vietnam. Journal of Infrastructure Policy and Development, 8(6), 6465. https://doi.org/10.24294/jipd.v8i6.6465
Nguyen, T. T. G., & Nguyen, T. M. H. (2026). A study on the use of mainstream and social media by ethnic minorities in Vietnam. Journal of Political Theory and Communication. https://doi.org/10.66057/llcttt-31544
Thu Thảo. (2025, March 18). Thanh niên phố núi khởi nghiệp sáng tạo. Báo Sơn La. https://baosonla.vn/kinh-te/thanh-nien-pho-nui-khoi-nghiep-sang-tao-E7DV3PhNR.html
Tran, T. H. N., & Truong, T. N. N. (2026). Livelihood access of poor and near-poor ethnic minority households: A case study in the Northwest mountainous region of Nghe An Province. VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences. https://doi.org/10.25073/2588-1094/vnuees.5492
Trang Thông tin điện tử Sơn La: https://sonla.gov.vn/thong-tin-tuyen-truyen-pho-bien-phap-luat/day-manh-tuyen-truyen-cac-chu-truong-chinh-sach-ve-giam-ngheo-617393).