Thứ Năm , 17/09/2026 , 02:03:33 GMT+7

Mở rộng hợp tác, nâng cao trách nhiệm trong đào tạo nghề

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Tư, 16/09/2026, 10:16:06 GMT+7

Thông tư 72/2026/TT-BGDĐT mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết trong giáo dục nghề nghiệp, đồng thời đặt yêu cầu cao hơn về điều kiện đào tạo, công khai thông tin, trách nhiệm của các bên và quản lý hoạt động trên cơ sở dữ liệu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT quy định về hợp tác, liên kết đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp. Thông tư mới nhằm thay thế Thông tư số 05/2022/TT-BLĐTBXH ngày 5/4/2022 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về liên kết tổ chức thực hiện chương trình đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 12/10/2026.

Việc ban hành quy định mới tạo cơ sở pháp lý cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mở rộng hợp tác, chia sẻ nguồn lực, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động, đồng thời tăng cường yêu cầu công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quá trình tổ chức đào tạo.

Mở rộng hợp tác, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động

Tạp chí giáo dục
Chia sẻ nguồn lực, nâng chất lượng đào tạo. Ảnh: Báo Nhân dân.

Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư là quy định đầy đủ các nội dung hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với cơ sở giáo dục, cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức công nghệ trong nước.

Các bên có thể hợp tác phát triển chương trình đào tạo, mô hình học tập; tổ chức thực hành, thực tập; quản lý, sử dụng chung cơ sở vật chất, thiết bị; bồi dưỡng, cập nhật kỹ năng nghề cho người học; nâng cao chuyên môn, kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới cho nhà giáo; ứng dụng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo phục vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.

Thông tư đồng thời quy định hợp tác đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng lao động thông qua đặt hàng đào tạo, tiếp nhận người học thực hành, thực tập, hỗ trợ tuyển dụng và giới thiệu việc làm cho người học.

Những nội dung này cho thấy hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp được tiếp cận theo hướng rộng hơn, không chỉ giới hạn ở việc phối hợp tổ chức một chương trình đào tạo. Nguồn lực của doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các tổ chức liên quan có thể tham gia từ phát triển chương trình, tổ chức đào tạo đến thực hành, thực tập và việc làm.

Đặc biệt, việc gắn hợp tác với nhu cầu sử dụng lao động tạo thêm điều kiện để chương trình đào tạo bám sát thực tiễn sản xuất, kinh doanh và sự thay đổi của công nghệ. Đây cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng có việc làm của người học, đồng thời giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu.

Một nội dung mới đáng chú ý là cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục, doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn.

Việc liên kết nhằm huy động, chia sẻ và khai thác hiệu quả nguồn lực về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, công nghệ và chuyên môn phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, phát triển chương trình, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thông tư quy định việc liên kết này không làm phát sinh pháp nhân mới và không làm thay đổi trách nhiệm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

Cách mở rộng này tạo thêm cơ hội để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp huy động nguồn lực xã hội, nhất là trong những lĩnh vực đòi hỏi thiết bị hiện đại, công nghệ mới và đội ngũ có chuyên môn sâu. Thay vì mỗi cơ sở phải tự đầu tư toàn bộ nguồn lực, việc chia sẻ có thể giúp sử dụng hiệu quả hơn cơ sở vật chất, thiết bị và chuyên môn sẵn có.

Tuy nhiên, việc mở rộng hợp tác không đồng nghĩa với việc phân tán trách nhiệm. Quy định không làm phát sinh pháp nhân mới và không thay đổi trách nhiệm của cơ sở giáo dục nghề nghiệp là điểm cần được lưu ý, bởi người học vẫn cần một đầu mối chịu trách nhiệm rõ ràng về chất lượng và quá trình đào tạo.

Đối với liên kết thực hiện chương trình đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ, các bên căn cứ quy định về đào tạo, mục tiêu, chuẩn đầu ra, đặc thù ngành, nghề và điều kiện bảo đảm chất lượng để thỏa thuận lựa chọn phương thức tổ chức phù hợp và xác định trách nhiệm trong hợp đồng liên kết.

Đơn vị chủ trì chịu trách nhiệm toàn diện về tổ chức đào tạo, quản lý chương trình, tuyển sinh, quản lý người học, kiểm tra, đánh giá, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ.

Quy định này đặt trách nhiệm về chất lượng vào đúng chủ thể, tránh tình trạng liên kết nhiều bên nhưng khi phát sinh vấn đề lại khó xác định đơn vị chịu trách nhiệm. Đặc biệt, với chương trình đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ, việc xác định rõ đơn vị chủ trì có ý nghĩa trực tiếp đối với quyền lợi của người học và giá trị của kết quả đào tạo.

Công khai trước tuyển sinh, quản lý bằng dữ liệu

Tạp chí giáo dục
Đưa doanh nghiệp vào sâu hơn trong quá trình đào tạo. Ảnh: Báo Đại biểu Nhân dân.

Cùng với mở rộng cơ hội hợp tác, liên kết, Thông tư đặt yêu cầu cụ thể về công khai, minh bạch và trách nhiệm đối với người học.

Trước khi quyết định tuyển sinh, đơn vị chủ trì phải rà soát, đánh giá việc đáp ứng các điều kiện thực hiện liên kết đào tạo theo quy định của pháp luật và hợp đồng liên kết đào tạo; chỉ quyết định tuyển sinh khi bảo đảm đầy đủ các điều kiện thực hiện liên kết đào tạo.

Thông tin về chương trình, văn bằng, chứng chỉ, địa điểm, hình thức, phương thức tổ chức đào tạo, điều kiện học tập, học phí và các khoản thu khác phải được công khai, minh bạch theo quy định. Đơn vị chủ trì liên kết đào tạo có trách nhiệm công khai thông tin về hoạt động liên kết đào tạo trên trang thông tin điện tử của đơn vị.

Yêu cầu này đặt quyền được biết của người học vào trước thời điểm tuyển sinh. Khi thông tin về chương trình, địa điểm, phương thức đào tạo, điều kiện học tập và chi phí được công khai, người học có cơ sở để lựa chọn và hạn chế những rủi ro phát sinh từ thông tin không đầy đủ hoặc thiếu minh bạch.

Đặc biệt, đơn vị chủ trì liên kết đào tạo phải đăng ký thông tin về hoạt động liên kết đào tạo vào hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp trước khi tuyển sinh, tổ chức đào tạo và cập nhật thông tin khi có thay đổi theo quy định của Bộ GDĐT.

Hợp đồng liên kết phải xác định cụ thể các nội dung chủ yếu về chương trình, thời gian, phương thức, địa điểm đào tạo; điều kiện bảo đảm chất lượng; trách nhiệm quản lý, hỗ trợ người học, kiểm tra, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ; cơ chế tài chính, quyền, nghĩa vụ của các bên và giải quyết tranh chấp.

Trường hợp chấm dứt hợp đồng liên kết đào tạo trước thời hạn, hợp đồng phải xác định rõ trách nhiệm của từng bên trong việc tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học.

Quy định về hợp đồng cho thấy liên kết đào tạo không chỉ là sự thỏa thuận giữa các tổ chức về cách thức phối hợp, mà phải trở thành một cơ chế phân định trách nhiệm cụ thể. Đặc biệt, phương án bảo đảm quyền lợi người học khi hợp đồng chấm dứt trước hạn là yêu cầu cần thiết để tránh việc người học phải gánh chịu hệ quả từ những thay đổi trong quan hệ hợp tác giữa các bên.

Thông tư cũng làm rõ trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo, từ điều kiện tổ chức, tuyển sinh, thực hiện chương trình, chất lượng đào tạo, đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị đến việc thực hiện hợp đồng, công khai, báo cáo, cập nhật dữ liệu và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người học.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo có trách nhiệm công khai thông tin, cập nhật đầy đủ, kịp thời dữ liệu về hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo trên hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp.

Hằng năm, trước ngày 15 tháng 1 của năm tiếp theo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp báo cáo tình hình thực hiện hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo của năm trước theo quy định. Trường hợp thông tin, dữ liệu đã được cập nhật đầy đủ trên hệ thống thì không phải báo cáo lại các nội dung, dữ liệu đã có, trừ trường hợp phục vụ thanh tra, kiểm tra hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Việc sử dụng dữ liệu đã được cập nhật để phục vụ quản lý, thay vì yêu cầu cơ sở giáo dục báo cáo lặp lại những thông tin đã có, vừa tăng hiệu quả quản lý vừa góp phần giảm thủ tục hành chính. Đây cũng là cách để chuyển từ quản lý dựa nhiều vào hồ sơ, báo cáo sang quản lý dựa trên dữ liệu được cập nhật và chia sẻ.

Sở GDĐT nơi cơ sở giáo dục nghề nghiệp đặt trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra; tiếp nhận, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; quản lý, khai thác thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý.

Hằng năm, trước ngày 30 tháng 1, Sở GDĐT tổng hợp, gửi báo cáo Bộ GDĐT và UBND cấp tỉnh về tình hình hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo trên địa bàn của năm trước.

Sở GDĐT nơi đặt địa điểm tổ chức hoạt động hợp tác, liên kết có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra hoạt động trên địa bàn; quản lý, khai thác dữ liệu và phối hợp với Sở GDĐT nơi cơ sở giáo dục nghề nghiệp đặt trụ sở chính trong quản lý, kiểm tra, xử lý các vấn đề phát sinh.

Việc phân định trách nhiệm giữa nơi cơ sở giáo dục nghề nghiệp đặt trụ sở chính và nơi tổ chức hoạt động liên kết là cần thiết trong bối cảnh đào tạo có thể diễn ra ở nhiều địa điểm. Cơ chế phối hợp này giúp hạn chế khoảng trống quản lý, đồng thời tạo cơ sở để xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh tại địa bàn tổ chức đào tạo.

Nhìn tổng thể, Thông tư 72/2026/TT-BGDĐT vừa mở rộng không gian hợp tác cho giáo dục nghề nghiệp, vừa thiết lập những yêu cầu chặt chẽ hơn về điều kiện, trách nhiệm và minh bạch. Hợp tác được khuyến khích để huy động nguồn lực, đưa doanh nghiệp và các tổ chức chuyên môn tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo; nhưng đi cùng với đó là yêu cầu xác định rõ ai chịu trách nhiệm, người học được bảo đảm quyền lợi như thế nào và cơ quan quản lý giám sát bằng phương thức nào.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận