Chỉ còn ít phút nữa là giao thừa - thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm Ất Tỵ với năm Bính Ngọ - năm đầu tiên toàn dân tộc bước vào kỷ nguyên số. Theo Âm lịch, sự kết hợp giữa Thiên can với Địa chi tạo nên một chu kỳ 60 năm xoay vần của trời đất. Bính Ngọ là tổ hợp Can - Chi thứ 43 trong hệ thống Âm lịch Can - Chi: Thiên can Bính (hành Hỏa) - Địa chi Ngọ (Ngựa - hành hỏa), do vậy Bính Ngọ là năm “Song Hỏa” (Lửa chồng lửa), biểu tượng của sự mạnh mẽ của năng lượng, sự nhiệt huyết và năng động của những hành động. Sự vươn mình của dân tộc Việt Nam trong năm Bính Ngọ sẽ được kỳ vọng là năng động, tốc độ phi mã của con Xích thố (ngựa tía, ngựa lửa). Trong không khí chào mừng sự thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tràn ngập niềm vui đón Tết cổ truyền của dân tộc, mỗi người chúng ta đều đã chuẩn bị cho mình tâm thế sẵn sàng cho hành trình tri thức hướng tới kỷ nguyên số với lòng tin Mã đáo thành công.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã đề cập vấn đề kỷ nguyên số trong bối cảnh thực hiện cách mạng chuyển đổi số, cải cách mạnh mẽ và toàn diện các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm điều chỉnh quan hệ sản xuất và tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Kỷ nguyên số là một xu thế phát triển của thế giới hiện đại, được bắt đầu từ thời điểm chuyển đổi công nghệ cơ khí và điện tử Analog sang điện tử kỹ thuật số, đánh dấu sự ra đời của máy tính kỹ thuật số và sự lưu trữ dữ liệu số. Tùy thuộc vào sự phát triển này mà thời điểm đi vào kỷ nguyên số của mỗi quốc gia không trùng hợp với các quốc gia khác.
Hai yếu tố chính của kỷ nguyên số là kinh tế số và xã hội số. Trong đó, Kinh tế số là nền kinh tế, trong đó mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được thực hiện thông qua nền tảng kỹ thuật số, bao gồm thương mại điện tử, tài chính số, kinh tế chia sẻ. Kinh tế số có 3 thành phần cơ bản gồm: Kinh tế số ICT: Công nghiệp công nghệ thông tin và dịch vụ viễn thông; Kinh tế số Internet: Các hoạt động của kinh tế đều phải dựa vào Internet; Kinh tế số của các ngành: Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong các ngành truyền thống (ngân hàng số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh).
Xã hội số là xã hội mà công nghệ kỹ thuật số tích hợp sâu rộng vào mọi hoạt động đời sống từ kinh tế, văn hóa đến quản trị. Người sử dụng công nghệ, dữ liệu để kết nối, tương tác và làm việc là công dân số.
Chuyển đổi số là động lực để kết nối kinh tế số với xã hội số.
Việt Nam đi vào kỷ nguyên số bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (01/2026). Giai đoạn đầu tiên của kỷ nguyên số ở Việt Nam là nhiệm kỳ của Đại hội XIV: 2026 - 2030. Sự định vị kỷ nguyên số thể hiện ở các điểm cơ bản sau đây:
- Kỷ nguyên số là cơ hội quan trọng để Việt Nam vươn mình, phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với yêu cầu thời đại;
- Kỷ nguyên số lấy chuyển đổi số làm động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất.
- Trong kỷ nguyên số sẽ có cách mạng điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới, tranh thủ tối đa các cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0.
- Kỷ nguyên số giúp Việt Nam vươn lên vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Với những quốc gia đi vào kỷ nguyên số sớm hơn Việt Nam, họ hướng tới năm 2045 để chuyển xã hội số hiện nay của họ sang xã hội thông minh. Điều này, có thể Nhật Bản sẽ đạt mục tiêu đó sớm hơn, vì từ năm 2016, năm mà Hội đồng khoa học, công nghệ và sáng tạo của họ đã thiết kế mô hình xã hội 5.0, hướng tới một xã hội thông minh (Smart Society), sau giai đoạn phát triển xã hội tri thức (Knowledge Society).
Bốn yếu tố kỹ thuật của xã hội thông minh của Nhật Bản là:
· Trí tuệ nhân tạo (AI): Sử dụng AI để phân tích số lượng lớn những dữ liệu, đưa ra những giải pháp tối ưu và giải pháp vượt trội so với trí tuệ con người.
· Dữ liệu lớn (Big Data): Thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau qua IoT và cảm biến để phân tích và tạo ra giá trị mới.
· Robot và Tự động hóa: Tối ưu hóa sự tham gia của hệ thống Robot trong mọi hoạt động, giúp con người giải quyết những nhiệm vụ đòi hỏi độ chính xác cao.
· Internet kết nối vạn vật: Kết nối “vạn vật - con người - các hệ thống”, tạo thành mạng lưới thông minh và hiệu quả.
Cùng với Nhật Bản, nhiều quốc gia khác cũng bước vào vòng đua tới đích xã hội thông minh như:
Hàn Quốc: Seoul bắt đầu nổi tiếng về giao thông thông minh, quản lý nước thải, dịch vụ công kỹ thuật số, phát triển hạ tầng số, các công nghệ số mới nổi.
Singapore: Đẩy mạnh triển khai dự án “Smart Nation” (Quốc gia thông minh), phát triển các thành phố thông minh.
Vương quốc Anh: Đang triển khai nhiều biện pháp nhằm xây dựng định danh số thống nhất (One Login) để người dân dễ dàng sử dụng các dịch vụ công và tư, hoàn thiện khung pháp lý về an ninh mạng, thúc đẩy hợp tác công - tư và tạo ra đời sống hạnh phúc cho người cao tuổi.
Hoa Kỳ: Tập trung phát triển đô thị thông minh, đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ, xây dựng nền tảng Mobility as a service (MaaS) để dân chúng thuận lợi thanh toán cho các phương tiện giao thông qua một ứng dụng duy nhất.
Đức: Sau chương trình Industry 4.0, Đức đẩy mạnh việc ứng dụng AI để dự báo tai nạn lao động, phân bố thanh tra an toàn lao động hợp lý.
Trung Quốc: Tăng cường ứng dụng Big Data trong quản lý dân cư và phúc lợi xã hội, đầu tư quy mô lớn cho chương trình phát triển các thành phố thông minh.
Ấn Độ: Triển khai Đề án “Ấn Độ số” (Digital India), số hóa 14 thành phố và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ di động, Chính phủ số.
Estonia: Xây dựng thành công mô hình e-Estonia, trở thành quốc gia điện tử phát triển nhất thế giới.
Những dữ liệu trên đây cho thấy Việt Nam đi vào Kỷ nguyên số chậm hơn nhiều quốc gia. Song, con đường đi vào kỷ nguyên số của Việt Nam sẽ có thời gian rút ngắn và ở đoạn cuối của kỷ nguyên số vẫn có mục tiêu một xã hội Việt Nam thông minh, một dân tộc Việt Nam thông thái nếu như chúng ta tiến vào kỷ nguyên số với tốc độ thiên lý mã của con tuấn mã Bính Ngọ ngay từ giây phút đầu tiên của dàn pháo hoa đêm giao thừa Bính Ngọ. Hoặc phát triển phi mã, hoặc đủng đỉnh an bài. Việc lựa chọn chỉ có hai phương án!
Bước vào năm mới Bính Ngọ 2026, Giáo dục Việt Nam cần xác lập sứ mệnh như một “tuyên ngôn hành động” với ba định hướng lớn:
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Nguồn nhân lực trong giai đoạn mới không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động mà còn phải dẫn dắt đổi mới sáng tạo. Do đó, đào tạo nhân lực tại chỗ và nhân lực tương lai thành một lực lượng lao động chất lượng cao, đủ sức tạo nên những đột phá trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển giáo dục và đào tạo.
Thứ ba, đổi mới căn bản mô hình giáo dục: Tạo nên một cuộc cách mạng thay đổi triệt để mô hình giáo dục truyền thống, xây dựng mô hình giáo dục mở (mô hình xã hội học tập) mang những nét đặc trưng của Văn hóa Việt Nam, tiếp cận và hội nhập với xu thế vĩ mô của sự phát triển giáo dục của thế giới hiện đại.
Sự phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên số cần theo một lối đi riêng, không cóp nhặt nguyên mẫu các mô hình phát triển giáo dục của những quốc gia phát triển và cũng không coi những kinh nghiệm thành công của họ như những tín điều. Chỉ bằng lối đi riêng mới đi nhanh và mới hi vọng có được vị trí của top đầu về phát triển giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
Từ sứ mệnh quan trọng trên đây, ngành Giáo dục của chúng ta cần làm những việc cụ thể với tốc độ phi mã của năm Bính Ngọ, đó là:
Phổ cập giáo dục trung học – nền tảng của nguồn nhân lực số: Trên quan điểm của Đảng và Nhà nước, phổ cập giáo dục trung học cần được xác định là mục tiêu chiến lược. Đồng thời, hệ thống đại học phải mở rộng theo hướng linh hoạt, phát triển các khóa học chính quy và không chính quy, tạo cơ hội để mọi thanh niên sau trung học đều có thể tiếp cận học vấn đại học dưới nhiều hình thức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các ngành nghề tuyển dụng lao động.
Xây dựng trường học số và bảo đảm công bằng tiếp cận
Đặc biệt, vùng miền núi, hải đảo và khu vực khó khăn phải được ưu tiên đầu tư hạ tầng số nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Nhà nước cần có kế hoạch đầu tư để các mô hình trường học nói trên nhanh chóng phủ kín các địa bàn hiện đang khó khăn về kinh tế và về hạ tầng giao thông liên xã, liên tỉnh. Con em các dân tộc thiểu số, con em người lao động vùng núi, vùng biển vốn đã nhiều năm thiếu những cơ hội và điều kiện học tập hiện đại. Làm tốt điều này là hướng đầu tư tạo nguồn lao động chất lượng cao tương lai, tạo động lực phát triển chiến lược kinh tế - xã hội cho những vùng mà còn nhiều tiềm năng.
Đại học – trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia
Trong kỷ nguyên số, các trường đại học được đặt là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế thực, không phải là nơi luyện thi, cũng không phải nơi cấp bằng mà không dùng được trong các doanh nghiệp. Giáo dục đại học có trách nhiệm chính đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thay đổi liên tục do nhiều nghề cũ bị thay thế bằng nhiều nghề mới, do công nghệ sản xuất thay đổi nhanh chóng. Các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, kinh tế số... không có cơ sở đào tạo nào thay thế trường đại học.
Kỷ nguyên số cần các trường đại học tạo cho quốc gia có vị thế cao trong mối quan hệ quốc tế, tạo cho nền kinh tế quốc gia có năng lực cạnh tranh hiệu quả. Mỗi trường đại học là một pháo đài bảo vệ đất nước trong tiến trình hiện đại hóa mà kỷ nguyên số yêu cầu.
Giáo dục người lớn và “bình dân học vụ số”
Bên cạnh đó, cần xây dựng mô hình công dân số với những năng lực cốt lõi mà kỷ nguyên số yêu cầu. Mô hình công dân số là cơ sở để đào tạo những công dân toàn cầu. Ngành giáo dục có trách nhiệm chính với công việc này, bởi công dân số và công dân toàn cầu là mục tiêu đào tạo của trường phổ thông và trường đại học.
Năm 2025 đã khép lại khi mô hình xã/phường học tập đã được định hình trên nền tảng 5 mô hình học tập và đã được triển khai trên mọi địa bàn dân cư. Tại cấp hành chính xã, một xã được công nhận đạt danh hiệu xã học tập khi 5 mô hình học tập đạt tới một tỷ lệ do nhà nước quy định. 5 mô hình đó là: Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập, Đơn vị học tập và Công dân học tập. Trong 5 mô hình này, Công dân học tập là yếu tố chất lượng của 4 mô hình còn lại. 4 mô hình còn lại là những môi trường nuôi dưỡng mô hình Công dân học tập phát triển.
Khi xã hội học tập trên địa bàn hành chính cấp xã đã trở thành mô hình chính thức và phổ biến khắp trong cả nước thì công việc tiếp theo là xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh/thành phố. Việc xây dựng tỉnh học tập, thành phố học tập có 2 hướng:
Kỷ nguyên số đặt giáo dục vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Nếu chuyển đổi số là động lực của kinh tế và xã hội, thì giáo dục chính là nền tảng tạo nên động lực đó. Giai đoạn 2026–2030 sẽ là phép thử về năng lực đổi mới của toàn ngành. Hoặc giáo dục bứt phá, dẫn dắt quá trình chuyển đổi; hoặc tụt lại phía sau trong vòng xoáy cạnh tranh toàn cầu. Sứ mệnh đã rõ. Vấn đề còn lại là quyết tâm hành động và tổ chức thực hiện với tốc độ của thời đại số.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2018). Định hướng hiện thực một siêu xã hội thông minh của Nhật Bản. Tổng luận khoa học, số 4/2018, Hà Nội.
2. Cục Ứng dụng Công nghệ thông tin (2019). Xu hướng phát triển chính phủ điện tử trên thế giới. Chuyên đề, 8/2019.
3. Center for Reseach and Development Strategy - Japan Science and Technology Agency (2016). Future Services & Societal Systemes in Society 5.0, November, 2016.
4. GS.TS Phạm Tất Dong (2025). Xây dựng xã hội học tập trong quốc gia chuyển đổi số. Nhà Xuất bản Dân trí, Hà Nội.
5. GS.TS Phạm Tất Dong (2025). Học tập suốt đời vì một xã hội phát triển bền vững. Nhà Xuất bản Dân trí, Hà Nội.
6. GS.TS Phạm Tất Dong (2025). Bình minh của kỷ nguyên công nghệ số. https:// https://congdankhuyenhoc.vn/binh-minh-cua-ky-nguyen-cong-nghe-so-179260106232436662.htm (14:36, 30/12/2025).
7. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2018). Báo cáo nghiên cứu mô hình xã hội siêu thông minh và một số định hướng phát triển đối với Việt Nam. Tháng 4/2018.
8. Nguyễn Mạnh Hùng, Hà Minh Hiệp (2019). Mô hình xã hội siêu thông minh 5.0 của Nhật Bản và hàm ý chính sách. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 1+2/2019, Hà Nội.