Thứ Bảy , 01/08/2026 , 15:09:01 GMT+7

Đại học cần trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế quốc gia

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 23/07/2026, 09:38:28 GMT+7

Trong mục tiêu đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng cao, hướng tới mức tăng trưởng hai con số, các trường đại học cần trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Kinh nghiệm từ nhiều nền kinh tế của các quốc gia cho thấy, phía sau mỗi bước phát triển nhanh và bền vững là một chiến lược đầu tư dài hạn cho đại học và nguồn nhân lực.

Đại học ở trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Tại buổi làm việc giữa Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh, giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp là lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong những định hướng phát triển mới của đất nước. Kết luận số 18-KL/TW ban hành ngày 02/4/2026 tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV) đề ra kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030 đặt yêu cầu đổi mới căn bản tư duy phát triển, trong đó tăng trưởng phải gắn với nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Muốn vậy, không thể thiếu một hệ thống giáo dục đại học đủ năng lực đào tạo những nhân lực có trình độ cao, làm chủ công nghệ và tạo ra tri thức mới.

Tạp chí giáo dục
Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp là lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số (Nguồn: Đại học Quốc gia Hà Nội)


Nhìn lại những năm gần đây, có thể thấy giáo dục đại học đang đứng trước một hệ thống chính sách có tính định hướng ngày càng rõ hơn. Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo nền tảng chính trị quan trọng cho việc đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực chính của phát triển. Trong đó, giáo dục đại học phải là nơi đào tạo nhân lực khoa học công nghệ và tạo ra các sản phẩm nghiên cứu phục vụ nền kinh tế. Tiếp đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục đặt yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, trong đó nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực của các cơ sở giáo dục đại học.

Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng xác định giáo dục đại học phải gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực khoa học công nghệ.

Bên cạnh đó, việc thúc đẩy các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược thông qua các chính sách hỗ trợ đào tạo, học bổng và thu hút người học đang mở ra một hướng đi mới. Điều này cho thấy Nhà nước đang từng bước điều chỉnh chính sách để khuyến khích người học lựa chọn những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế.

Kinh nghiệm quốc tế: Nhà nước dẫn dắt, đại học kết nối với nền kinh tế

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có mô hình duy nhất để các quốc gia phát triển đại học, nhưng có một điểm chung: những nền kinh tế thành công đều coi đại học là một bộ phận của chiến lược phát triển quốc gia.

Hàn Quốc là một ví dụ điển hình. Trong quá trình công nghiệp hóa, quốc gia này từng bước xây dựng năng lực đào tạo và nghiên cứu để phục vụ các ngành công nghiệp chiến lược. Khi chuyển sang nền kinh tế dựa trên công nghệ cao, chính sách phát triển nhân lực STEM, nghiên cứu khoa học và liên kết đại học - doanh nghiệp được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với chiến lược công nghiệp quốc gia. Hàn Quốc tiếp tục đặt AI, bán dẫn và các trung tâm dữ liệu vào vị trí ưu tiên trong chiến lược tăng trưởng. Việc tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực công nghệ có khả năng tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao là một phần trong nỗ lực nâng cao tiềm năng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế.

Singapore lại cho thấy một cách tiếp cận khác. Với quy mô dân số nhỏ, quốc gia này không thể cạnh tranh bằng số lượng mà tập trung xây dựng hệ thống đại học có chất lượng quốc tế, thu hút nhân tài toàn cầu, kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp và định hướng đào tạo theo những lĩnh vực nền kinh tế cần.

Đức cũng là một ví dụ đáng chú ý với mô hình liên kết chặt chẽ giữa đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hệ sinh thái này giúp tri thức được chuyển hóa thành công nghệ và sản phẩm, đồng thời tạo ra sự gắn kết giữa đào tạo nghề, giáo dục đại học và nhu cầu của nền sản xuất.

Điểm chung của những quốc gia này là không xem đại học như một “ốc đảo” tách biệt với nền kinh tế. Nhà nước xác định những lĩnh vực ưu tiên, doanh nghiệp tham gia sâu vào đào tạo và nghiên cứu, còn các trường đại học được trao quyền tự chủ đủ lớn để phát huy năng lực sáng tạo.

Trong mục tiêu tăng trưởng kinh tế, giáo dục đại học giữ một vị trí đặc biệt. Đại học không tạo ra tăng trưởng theo cách trực tiếp như một nhà máy hay một doanh nghiệp, nhưng đại học tạo ra những điều kiện để nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn và dựa nhiều hơn vào tri thức.

Nếu muốn bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam không thể chỉ đặt mục tiêu có thêm nhiều trường đại học hay nhiều sinh viên tốt nghiệp. Mục tiêu quan trọng hơn là phải có những đại học đủ năng lực tạo ra nhân lực chất lượng cao, công nghệ mới và những ý tưởng có thể làm thay đổi phương thức phát triển.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận