Thứ Tư , 19/08/2026 , 12:26:25 GMT+7

Đánh giá mức độ phát triển, không tạo áp lực khi đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Tư, 19/08/2026, 09:18:17 GMT+7

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Thông tư quy định tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá các cơ sở giáo dục trong triển khai thực hiện đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. Dự thảo được xây dựng theo hướng phát triển từng bước, không xếp hạng, không tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục.

Theo đó, việc xây dựng Thông tư nhằm cụ thể hóa Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045”.

Dự thảo Thông tư có phạm vi áp dụng đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên. Dự thảo cũng quy định việc tự đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá, cải tiến chất lượng dạy và học tiếng Anh trong trường học.

Từ “dạy tiếng Anh” đến xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh

Tạp chí giáo dục
Từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh trong trường học. Ảnh: Báo Đại Đoàn Kết.

Dự thảo không chỉ tập trung vào kết quả dạy và học môn Tiếng Anh, mà hướng tới xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh trong cơ sở giáo dục.

Theo Dự thảo, “đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai” được tiếp cận là một quá trình phát triển đồng bộ các điều kiện về chương trình, đội ngũ, môi trường giáo dục, học liệu, cơ sở vật chất, chuyển đổi số và các nguồn lực liên quan để tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, phù hợp và hiệu quả trong dạy học, giao tiếp, quản lý và các hoạt động giáo dục.

Như vậy, dự thảo không yêu cầu mọi hoạt động trong nhà trường phải thực hiện bằng tiếng Anh ngay từ đầu, mà từng bước hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục. Đây là cách tiếp cận có ý nghĩa quan trọng, bởi việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai là một quá trình phát triển lâu dài, cần có lộ trình, điều kiện bảo đảm và sự tham gia của nhiều thành tố trong nhà trường.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng xây dựng quy định để đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh áp dụng cho 5 nhóm cơ sở giáo dục gồm: mầm non, phổ thông, đại học, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên. Mỗi loại hình cơ sở giáo dục có bộ tiêu chuẩn, tiêu chí tương ứng.

Cách thiết kế này vừa tạo ra sự thống nhất trong toàn ngành, vừa bảo đảm việc đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh có sự phân hóa theo đặc điểm, chức năng và điều kiện hoạt động của từng loại hình cơ sở giáo dục.

Việc phân hóa tiêu chuẩn, tiêu chí là cần thiết bởi điều kiện triển khai ở một trường mầm non không thể giống trường phổ thông, cơ sở giáo dục đại học hay giáo dục nghề nghiệp. Một khung đánh giá thống nhất về định hướng nhưng có sự khác biệt về yêu cầu cụ thể sẽ giúp mục tiêu chung của Đề án được triển khai phù hợp hơn với thực tiễn.

Đánh giá để cải tiến, không phải để xếp hạng

Tạp chí giáo dục
Kết quả đánh giá không dùng để xếp hạng, so sánh các cơ sở giáo dục. Ảnh: Báo Thanh niên.

Dự thảo Thông tư xác định kết quả triển khai theo 3 mức độ phát triển sau:

Mức độ 1 - Mức độ khởi đầu: cơ sở giáo dục đã hình thành các điều kiện cần thiết và tổ chức được các hoạt động cơ bản để triển khai đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai.

Mức độ 2 - Mức độ phát triển: cơ sở giáo dục đã củng cố, mở rộng các điều kiện và duy trì thường xuyên các hoạt động sử dụng tiếng Anh trong dạy học, giao tiếp và các hoạt động giáo dục.

Mức độ 3 - Mức độ phát triển cao: cơ sở giáo dục triển khai đồng bộ, hiệu quả các điều kiện và hoạt động, hình thành môi trường sử dụng tiếng Anh toàn diện, bền vững trong toàn đơn vị.

Các mức độ được thiết kế theo nguyên tắc kế thừa: muốn đạt Mức độ 2 phải đạt Mức độ 1; muốn đạt Mức độ 3 phải đạt Mức độ 2 và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Mức độ 3.

Cách tiếp cận theo mức độ giúp các cơ sở giáo dục chủ động trong xây dựng kế hoạch triển khai, tiến đến các mức độ lớn hơn thay vì tạo ra tâm lý chạy theo một chuẩn chung trong cùng một thời điểm.

Đây cũng là điểm phù hợp với đặc trưng của một đề án có lộ trình dài hạn. Khi điều kiện giữa các địa phương, các cơ sở giáo dục còn khác nhau, việc xác định các mức độ phát triển sẽ tạo điều kiện để từng đơn vị lựa chọn bước đi phù hợp, thay vì buộc tất cả phải đạt cùng một yêu cầu tại cùng một thời điểm.

Đáng chú ý, dự thảo quy định kết quả đánh giá không được sử dụng để xếp hạng, so sánh hoặc tạo áp lực giữa các cơ sở giáo dục. Thay vào đó, kết quả đánh giá chất lượng dạy và học tiếng Anh được sử dụng để cơ sở giáo dục xác định thực trạng; xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng; cơ quan quản lý theo dõi, tổng hợp và hỗ trợ; hoạch định chính sách; dự báo và phân bổ nguồn lực phù hợp với lộ trình của Đề án.

Dự thảo không thiết kế hoạt động đánh giá theo hướng phát sinh một quy trình hành chính độc lập, mà yêu cầu cơ sở giáo dục tích hợp tự đánh giá vào kế hoạch nhiệm vụ năm học của đơn vị. Cách tiếp cận này giúp kết quả đánh giá được gắn trực tiếp với hoạt động quản trị và kế hoạch phát triển của nhà trường, thay vì trở thành một bộ hồ sơ riêng chỉ phục vụ kiểm tra.

Trên cơ sở kết quả tự đánh giá, cơ sở giáo dục phải xây dựng và thực hiện kế hoạch cải tiến chất lượng; chủ động huy động, bố trí nguồn lực; định kỳ rà soát, cập nhật và điều chỉnh giải pháp để duy trì, nâng cao mức độ đạt được. Kết quả cải tiến là căn cứ cho các chu kỳ tự đánh giá tiếp theo, tạo thành một chu trình liên tục.

Cũng theo dự thảo Thông tư, dữ liệu từ hoạt động đánh giá là căn cứ để cơ quan quản lý theo dõi, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, hướng dẫn, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát, hoạch định chính sách, dự báo và phân bổ nguồn lực phù hợp với lộ trình triển khai Đề án.

Ở cấp địa phương, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo triển khai, bảo đảm các điều kiện cần thiết về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và ngân sách; đồng thời ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, huy động nguồn lực hợp pháp và nhân rộng các mô hình hiệu quả.

Như vậy, bộ tiêu chuẩn, tiêu chí theo dự thảo không chỉ nhằm xác định cơ sở giáo dục đang ở đâu trong quá trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, mà còn hướng tới trả lời câu hỏi quan trọng hơn: cần làm gì tiếp theo và nguồn lực nào cần được bổ sung để cơ sở giáo dục tiến lên mức độ cao hơn. Đây là cơ sở để mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai được triển khai theo hướng thực chất, có lộ trình và phù hợp với điều kiện của từng cơ sở giáo dục, từng địa phương.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận