Thứ Tư , 19/08/2026 , 12:28:35 GMT+7

Trí thức - lực lượng chủ chốt trong nền kinh tế số và những yêu cầu đổi mới giáo dục

Thứ Tư, 19/08/2026, 09:13:38 GMT+7

Sự phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên số đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất trên toàn cầu. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, lao động cơ bắp là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất thì trong nền kinh tế số, tri thức, khoa học và công nghệ đã trở thành nguồn lực quyết định năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của mỗi quốc gia. Điều đó không chỉ minh chứng cho xu thế phát triển tất yếu của thời đại mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển đội ngũ trí thức, đổi mới giáo dục và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng kỷ nguyên số.

Từ dự báo của nhà tư tưởng Karl Marx đến hiện thực của nền kinh tế số

Từ thế kỷ XIX, nhà tư tưởng Karl Marx (1818 - 1883) đã đưa ra một dự báo thiên tài: Đến một giai đoạn phát triển xã hội nhất định, khoa học và kỹ thuật sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Hơn một thế kỷ sau, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ tự động hóa, dự báo đó đang từng bước trở thành hiện thực.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với biểu tượng là nền "văn minh ống khói" đã tạo nên bước nhảy vọt về năng suất lao động, cao gấp nhiều lần so với nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, trong các nhà máy thời kỳ này, con người vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động cơ bắp để tạo ra sản phẩm. Các cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo đã từng bước thay thế sức người bằng máy móc và dây chuyền sản xuất hiện đại, giúp giải phóng đáng kể lao động chân tay. Dù vậy, ranh giới giữa người công nhân trực tiếp sản xuất và đội ngũ kỹ sư, chuyên gia vẫn khá rõ nét. Khoảng cách về trình độ học vấn cũng đồng thời phản ánh sự phân chia giữa lao động chân tay và lao động trí óc.

Tạp chí giáo dục
Trong các nhà máy thông minh ngày nay, người công nhân cần sở hữu kiến thức khoa học, kỹ năng số và năng lực vận hành các hệ thống sản xuất hiện đại (Nguồn ảnh: internet)

Người lao động đang được "trí thức hóa" trong kỷ nguyên AI

Sự xuất hiện của nền kinh tế số (đúng như tiên nghiệm -Transcendence của Marx) đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong cấu trúc lực lượng lao động. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ tự động hóa không chỉ thay thế những công việc lặp đi lặp lại mà còn giải phóng con người khỏi các thao tác nhàm chán, đơn điệu (Monotonous) khiến nặng nhọc cả về thể chất lẫn tinh thần.

Trong các nhà máy thông minh ngày nay, người công nhân vẫn là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm, nhưng vai trò của họ đã thay đổi sâu sắc. Thay vì chủ yếu sử dụng sức mạnh cơ bắp, họ cần sở hữu kiến thức khoa học, kỹ năng số và năng lực vận hành các hệ thống sản xuất hiện đại.

Điều này đặt ra yêu cầu người thợ học tập liên tục, cập nhật kiến thức và kỹ năng mới nhanh hơn theo mô hình "Just-in-Time Learning" - học tập đáp ứng nhu cầu tức thì, học đúng lúc, đúng kiến thức và có thể ứng dụng ngay vào công việc. Trong bối cảnh đó, quá trình "trí thức hóa" (Intellectualization) người lao động trở thành xu hướng tất yếu, từng bước hình thành lực lượng lao động tri thức (Knowledge Worker) trong nền sản xuất hiện đại.

Trí thức trở thành lực lượng sản xuất chủ chốt

Song song với quá trình chuyển đổi đó, cơ cấu lao động trong doanh nghiệp cũng đang thay đổi mạnh mẽ. Tỷ trọng lao động trực tiếp sản xuất có xu hướng giảm dần, trong khi đội ngũ chuyên gia AI, kỹ sư công nghệ, nhà phân tích dữ liệu, nhà khoa học và các chuyên gia đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng.

Đây không phải là lực lượng thay thế người công nhân, mà là những chủ thể tạo ra tri thức mới, phát triển công nghệ mới, thiết kế mô hình sản xuất và thúc đẩy chuyển đổi số. Những công việc như nghiên cứu, lập trình, phân tích dữ liệu, tối ưu hóa hệ thống hay phát triển các giải pháp công nghệ hiện nay vẫn là lĩnh vực đòi hỏi năng lực sáng tạo mà chưa có loại hình lao động nào có thể thay thế.

Có thể thấy, kỷ nguyên số đang tạo nên một bước chuyển mang ý nghĩa lịch sử trong sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu trước đây đội ngũ trí thức chủ yếu giữ vai trò hỗ trợ hoạt động sản xuất thì ngày nay, chính họ đang trực tiếp tham gia tạo ra giá trị gia tăng thông qua tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Điều đó cũng khẳng định tính đúng đắn và tầm nhìn vượt thời đại trong dự báo của Karl Marx về vai trò của khoa học và công nghệ. Trong nền kinh tế số, tri thức không còn chỉ là công cụ hỗ trợ sản xuất mà đã trở thành nguồn lực cốt lõi, lực lượng sản xuất trực tiếp và là động lực quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.

Quan niệm hiện đại về trí thức trong kỷ nguyên số

Trí thức không chỉ là người có học vấn cao

Trước hết, cần khẳng định rằng, trí thức là một nhóm ước lệ (Conventional Group), nhóm những người không quen biết, không trực tiếp tương tác với nhau, được tập hợp theo những tiêu chí chung, chứ không phải là một tập hợp có tổ chức. Trong mỗi giai đoạn phát triển xã hội, khung tiêu chí đánh giá trí thức cũng có những nét riêng, và từ đó khái niệm “Trí thức” luôn biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội.

Một số định nghĩa về “Trí thức”

Từ 1980 - 1990, từ điển nước Nga Xô Viết định nghĩa: Trí thức là người có học vấn và kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá và làm nghề lao động trí óc.

Tại Việt Nam định nghĩa về "Trí thức" (thời kỳ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá): “Trí thức là người có trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu, có chức năng phản biện xã hội và duy trì, bảo tồn, phát huy văn hoá, vận dụng những tri thức mới về khoa học, kỹ thuật để tạo ra những giá trị cho xã hội”.

Hiện nay, khi Việt Nam bắt đầu hành trình vào kỷ nguyên số, quan điểm mới theo ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) định nghĩa:“Trí thức thời kỳ công nghiệp hoá không chỉ là người sở hữu tri thức, mà còn là người sáng tạo, khai mở những khả năng mới và chuyển hoá tri thức thành động lực phát triển".

Định nghĩa "Trí thức" giai đoạn phát triển xã hội thông tin: “Trí thức là người có năng lực thu nhận, xử lý, sáng tạo và truyền bá tri thức, lấy thông tin làm nguồn lực chủ yếu để giải quyết những vấn đề xã hội”.

Định nghĩa "Trí thức" giai đoạn phát triển xã hội số: “Trí thức là người làm chủ dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để sáng tạo tri thức mới, dắt dẫn đổi mới và tạo ra những giá trị cho con người trong hệ sinh thái số”. Hoặc: “Trí thức số là người biết huy động sức mạnh trí tuệ con người và trí tuệ nhân tạo để kiến tạo tri thức mới, đổi mới văn hoá và thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội”.

Giá trị cốt lõi của trí thức là phụng sự xã hội

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, nhiều học giả đều có chung một quan điểm: tri thức chỉ có ý nghĩa khi hướng đến lợi ích của cộng đồng. Điểm gặp gỡ trong tư tưởng của nhiều nhà khoa học và triết gia là trí thức luôn mang trong mình trách nhiệm xã hội. Họ không chỉ sáng tạo tri thức mà còn phải chịu trách nhiệm đối với tác động của tri thức đó tới con người.

Khi nói về tầng lớp trí thức trong xã hội - những bậc hiền tài “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ). Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Trí thức là người nhìn thấy cái mà người khác chưa thấy, lo cho cái mà người khác chưa lo”. Theo ông, đó là nỗi ưu hoạn (tâm trạng luôn lo lắng, trăn trở) của trí thức. Điều này mang lại cho Trí thức một phẩm chất cao quý: Sự khiêm nhường. Đó là một phẩm chất cốt lõi trong nhân cách của giới trí thức chân chính.

Tạp chí giáo dục
Trí thức là người có học vấn và kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá và làm nghề lao động trí óc. (Nguồn ảnh: Phenika)

Đức hạnh cũng là điều được trí thức đề cao. Jean Paul Sartre (Jean-Paul Charles Aymard Sartre) là nhà tâm lý học hiện sinh từng cho rằng, người phát hiện năng lượng nguyên tử là nhà trí thức, còn người làm ra quả bom nguyên tử thì không. Đây là một thái độ dứt khoát, rằng, trí thức không bao giờ đi ngược lại với quyền sống của con người.

Những câu chuyện về Albert Einstein hay Otto Hahn luôn được nhắc đến như những bài học về lương tri của giới khoa học. Những thành tựu khoa học có thể tạo ra sức mạnh to lớn cho nhân loại, nhưng nếu thiếu định hướng đạo đức, chúng cũng có thể trở thành công cụ hủy diệt.

Quan điểm của Daisaku Ikeda (1928-2023), nhà lãnh đạo Hội Phật giáo Nhật Bản, tác giả, nhà giáo dục và người ủng hộ giải trừ vũ khí hạt nhân, đã đặt một vấn đề mang tính cốt lõi trong quan hệ "Trí thức - Nhân dân". D. Ikeda nói: "Trí thức luôn thấy mình mắc nợ xã hội, bởi xã hội đã ứng trước học vấn cho trí thức; Xã hội luôn biết ơn trí thức, bởi trí thức đã mang lại những giá trị tốt đẹp cho xã hội”.

Nên hiểu mệnh đề "Trí thức luôn thấy mình mắc nợ xã hội vì xã hội đã ứng trước học vấn cho trí thức" như thế nào? Những nhà khoa học và công nghệ, những chuyên gia đầu ngành thuộc mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, những nhà văn hoá, những nhà lãnh đạo và quản lý xã hội, những tướng lĩnh danh tiếng v.v... đều không bao giờ nghĩ rằng, tài năng của họ là cái bẩm sinh, cái tự có (Innate/Inborn), không tự trên trời rơi xuống. Nó là cái được hình thành, là sản phẩm muộn, là cái có sau nhờ vào hệ sinh thái xã hội.

Con người trở thành trí thức, dù là vĩ đại đến đâu, kể cả những thiên tài có một không hai trong xã hội loài người, cũng lớn lên từ giáo dục gia đình, giáo dục học đường và giáo dục xã hội cùng các thiết chế tương ứng của các môi trường giáo dục đó. Gia đình nuôi dưỡng, nhà trường đào tạo, xã hội có thiết chế giúp con người phát huy tiềm năng để trở thành năng lực.

Ý thức về “món nợ xã hội” cần phải được hoàn lại xã hội là nền tảng trách nhiệm của trí thức trước cộng đồng. Món nợ xã hội được trí thức hoàn trả không phải bằng sự phục tùng, mà bằng lao động sáng tạo và trách nhiệm, nghĩa vụ phục vụ lợi ích của cộng đồng. Người trí thức hiểu rằng, xã hội đầu tư cho họ đâu chỉ đơn giản để họ có học vị, mà về cơ bản là trông đợi trí thức trên nền tảng tri thức, học vấn mà cống hiến tài năng, trí tuệ với trách nhiệm đạo đức (Ethics) và sự thấu cảm (Empathy) với đồng bào và đồng loại. Từ đó, trí thức là người luôn hoạt động theo câu hỏi: “Ta phải làm gì để người dân hạnh phúc, xã hội hưng thịnh bền vững?”.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên số, yêu cầu đó càng trở nên rõ nét. Mỗi trí thức cần ý thức rằng những thành quả học tập và nghiên cứu của mình được hình thành từ sự đầu tư của gia đình, nhà trường và xã hội. "Món nợ xã hội" ấy không được hoàn trả bằng lời nói hay danh vị, mà bằng lao động sáng tạo, cống hiến và những giá trị thiết thực cho đất nước, hướng đến xây dựng quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.

5 tầng bậc phát triển của trí thức trong thời đại AI

Có một câu hỏi được đặt ra: “Những tầng bậc trí tuệ của con người và ranh giới giữa người có học và người trí thức như thế nào?”. Trên cơ sở phân tích các cấp độ phát triển của trí tuệ con người, có thể khái quát quá trình trưởng thành của người trí thức trong nền kinh tế số qua 5 tầng bậc (Hierarchy) của trí tuệ để từ đó nhận diện tầng trí tuệ của người được coi là "Trí thức".

Dưới đây là bảng phân định các tầng bậc đó:

Tạp chí giáo dục
Với sự phân tầng trí tuệ trên đây, con người được coi là trí thức khi có có tầm nhìn trong cuộc đời hoạt động của họ.

Trong thời đại AI, khi công nghệ ngày càng đảm nhiệm các công việc mang tính lặp lại, giá trị khác biệt của con người sẽ không nằm ở lượng kiến thức sở hữu mà ở tầm nhìn, năng lực sáng tạo và minh triết trong việc sử dụng tri thức.

Hàm ý chính sách đối với giáo dục đào tạo

Việt Nam bước vào kỷ nguyên số với sự phát triển mạnh mẽ của Trí tuệ nhân tạo (AI) - nền tảng cốt lõi trong chuyển đổi số. Yêu cầu đặt ra đối với giáo dục và đào tạo cần những trí thức - lực lượng sản xuất trực tiếp, nòng cốt cho lực lượng lao động trong nền kinh tế số với một “Tầm nhìn” thông minh vượt trội.

Sự tiến bộ của AI đang hỗ trợ con người thực hiện những nhiệm vụ cụ thể trong các lĩnh vực, chuyên môn, lao động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phát triển văn hoá... Ở trình độ này, AI chưa đạt trình độ thông minh hơn con người. Tuy nhiên, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo rất nhanh, các nhà nghiên cứu dự báo chỉ khoảng 5 - 10 năm tới (tính từ 2025) sẽ xuất hiện "AI tổng quát" (Artificial Generative Intelligence - AGI) có năng lực học hỏi, làm việc ngang với con người. Elon Musk thậm chí còn nhấn mạnh rằng, tiềm năng của Tesla sẽ đạt được Robot hình người Optimus và xe tự hành trước năm 2030.

Với xu thế phát triển công nghệ mạnh mẽ đó, ngành giáo dục khi "nâng cấp" đội ngũ trí thức Việt Nam, cần tính đến những yêu cầu tham vọng về năng lực đối với đội ngũ này vào giai đoạn đầu kỷ nguyên số ở Việt Nam, nhưng cũng cần nhìn tới tương lai khi AGI bước vào nền kinh tế số.

Theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIV, các doanh nghiệp đóng vai trò là lực lượng và động lực trung tâm trong việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, chuyển đổi số. Với tinh thần này, ngành Giáo dục cần tăng cường những doanh nhân trí thức trong lực lượng trí thức Việt Nam hiện nay.

Sự kỳ vọng về vai trò của doanh nhân trí thức được phân định rõ ràng:

Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và vai trò chủ đạo dắt dẫn đầu tư công, phát triển hạ tầng cơ sở, ổn định kinh tế vĩ mô.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ: chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp, giúp nền kinh tế số trở nên năng động linh hoạt, thích ứng nhanh với thị trường đang biến đổi nhanh và tạo ra nhiều việc làm.

Doanh nghiệp tư nhân: là một động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Những người đứng đầu doanh nghiệp sẽ phải là doanh nhân trí thức (Intellectual Entrepreneur hay Intellectual Businessman) cần được Nhà nước giúp họ phát triển nhanh những năng lực cốt lõi như: Tư duy kinh doanh (Business mindset) có năng lực phân tích cơ hội, ra quyết định chiến lược, tối ưu hoá lợi nhuận và quản lý rủi ro trên các nguyên tắc kinh tế; Ý thức xã hội (Social Consciousness), mỗi doanh nhân đều nhận thức được, bản thân là một "doanh nhân phụng sự" (Servant Entrepreneur), luôn tìm câu hỏi trong kinh doanh: "Tôi tạo ra giá trị nào cho xã hội?"; Văn hoá khởi nghiệp (Startup Culture), tiếp cận nhanh với môi trường kinh doanh năng động, tạo cấu trúc phẳng hoặc phi tập trung để có sự giao tiếp cởi mở, hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, dân chủ trong việc trao đổi về hướng phát triển doanh nghiệp; Học tập suốt đời (Lifelong Learning), mỗi doanh nhân đều có một hành trình tri thức trong cuộc sống kinh doanh, xây dựng doanh nghiệp thành một tổ chức biết học tập (Learning Organization), thực hiện phương thức tồn tại "Học tập - Phát triển" (Learning - Development - L&D).

Đối với Giáo dục phổ thông và giáo dục Đại học

Để chuẩn bị đội ngũ doanh nhân - trí thức tương lai, trường phổ thông và trường đại học cần đưa vào Chương trình đào tạo những nội dung trên đây qua các môn học và sinh hoạt trải nghiệm:

Thứ nhất, Gắn Hướng nghiệp với Khởi nghiệp giúp cho học sinh, sinh viên biết chọn nghề phù hợp và tinh thần khởi tạo doanh nghiệp. Cả hai lĩnh vực giáo dục này đều đòi hỏi những hoạt động trải nghiệm thực tế linh hoạt và mang tính thử sức, không dừng lại trên lý thuyết sách vở.

Thứ hai, Cung cấp những tri thức liên ngành và xuyên ngành qua từng bài học nhằm giúp học sinh, sinh viên phát triển tư duy toàn diện, dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của xã hội và hệ thống nghề nghiệp, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, hiểu nghề một cách sâu sắc và có khả năng chuyển đổi khi cần thiết.

Thứ ba, Huấn luyện, đào tạo cho học sinh, sinh viên những kỹ năng và lối sống trong xã hội chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, bắt kịp các xu hướng vận động của kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu...

Thứ tư, Giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội, gắn việc học của học sinh, sinh viên với lịch sử phát triển đất nước, lợi ích cộng đồng, phát triển xã hội bền vững.

Thứ năm, Giáo dục năng lực kiến tạo trên nền tảng trí thức hàn lâm thông qua các hoạt động thực hành, thực tập, hình thành tác phong học tốt - hành tốt, trở thành người lao động có nghề trong xã hội số.

Kỷ nguyên số đang làm thay đổi căn bản lực lượng sản xuất. Nếu trong nền kinh tế công nghiệp, vốn và lao động là yếu tố quyết định thì trong nền kinh tế số, tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực cốt lõi của tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, xây dựng đội ngũ trí thức không còn là nhiệm vụ riêng của giáo dục đại học mà là chiến lược phát triển quốc gia. Giáo dục cần chuyển từ mục tiêu truyền đạt tri thức sang bồi dưỡng năng lực kiến tạo, tư duy đổi mới, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến.

Chỉ khi hình thành được đội ngũ trí thức vừa có năng lực chuyên môn, vừa có tầm nhìn, đạo đức và bản lĩnh đổi mới sáng tạo, Việt Nam mới có thể xây dựng thành công nguồn nhân lực chất lượng cao, biến trí thức thành lực lượng sản xuất chủ chốt và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên số.

PV/BTV

Trịnh Thị Thu

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận