Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo khẳng định vai trò then chốt của giáo dục nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho đồng bào dân tộc thiểu số (Bộ Chính trị, 2025). Cụ thể hóa định hướng này, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 (Quốc hội, 2025). Ngày 31/01/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình, trong đó phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm bền vững là một trụ cột (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026).
Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ thuật cao.Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị
Thực tiễn cho thấy khoảng cách kỹ năng ở vùng dân tộc thiểu số vẫn còn lớn. Theo kết quả Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số lần thứ III, trong gần 7,5 triệu người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên, chỉ 14,6% đã qua đào tạo từ sơ cấp trở lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ của cả nước là 29,8% (Sơn Hào, 2026). Giai đoạn 2021-2025, Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 đã hỗ trợ đào tạo nghề cho 238.958 lao động dân tộc thiểu số, nhưng không ít người học sau khi nhận chứng chỉ lại quay về làm nông hoặc rời quê tìm việc (Sơn Hào, 2026). Câu hỏi đặt ra không chỉ là đào tạo được bao nhiêu người, mà là bao nhiêu người sống được bằng nghề đã học.
Mô hình đào tạo nghề gắn với thị trường, cộng đồng và thế mạnh địa phương mở ra cơ hội thay đổi cho địa phương. Cách tiếp cận này cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược giảm nghèo bền vững, nhất là khi yêu cầu phát triển kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi xanh. Nhiều địa phương có lợi thế về nông nghiệp đặc sản, lâm nghiệp, dược liệu, nghề thủ công truyền thống và du lịch cộng đồng. Nếu được trang bị đúng kỹ năng, tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường, người dân hoàn toàn có thể chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp sang những mô hình kinh tế tạo giá trị gia tăng cao hơn ngay tại nơi mình sinh sống.
Trước yêu cầu này, giáo dục nghề nghiệp cần mở rộng hơn cách hiểu truyền thống là đào tạo kỹ năng để đáp ứng một vị trí việc làm có sẵn. Mục tiêu lâu dài là trao cho người học năng lực làm chủ sinh kế, thích ứng với thay đổi, tạo việc làm cho bản thân và cộng đồng. Đây cũng là nền tảng để chính sách giảm nghèo đa chiều, bền vững góp phần phát triển năng lực, tạo dựng cơ hội lâu dài cho người dân.
Đào tạo nghề cần gắn với sinh kế và nhu cầu thực tế của người dân
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước; phấn đấu tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm 1% - 1,5%/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10% .
Thách thức lớn nhất khi triển khai đào tạo nghề tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là điều kiện địa lý, hạ tầng, quy mô sản xuất và khả năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ còn khác biệt giữa các địa bàn. Không phải người lao động nào cũng có điều kiện rời quê hương để đến các trung tâm công nghiệp; trong khi đó, những sinh kế dựa trên tài nguyên, tri thức và văn hóa bản địa chưa phải lúc nào cũng được khai thác tương xứng với tiềm năng. Bởi vậy, định hướng đào tạo nghề cần xuất phát từ câu hỏi: Địa phương có thể phát triển ngành nghề gì, thị trường đang cần sản phẩm và dịch vụ nào, người dân cần bổ sung kỹ năng gì để tạo ra giá trị cao hơn?
Phát biểu tại Hội thảo chuyên đề “Hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm” ngày 9/10/2026, PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, cốt lõi của cải cách giáo dục nghề nghiệp là tạo ra tác động bao trùm và sinh kế bền vững. Đào tạo nghề cần trao quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế ngay tại quê hương, không đặt việc di cư ra đô thị làm con đường duy nhất để cải thiện thu nhập. Theo định hướng này, kinh tế nông thôn cần từng bước chuyển từ canh tác truyền thống, tự cung tự cấp sang các mô hình kinh doanh nông nghiệp và du lịch có giá trị cao, vừa nâng cao đời sống vừa bảo tồn văn hóa.
Cách tiếp cận đó đòi hỏi cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải hiểu đặc điểm của từng cộng đồng, thay vì áp dụng một chương trình giống nhau cho mọi địa phương. Cùng là đào tạo nghề nông nghiệp, nhưng nhu cầu của vùng trồng cây ăn quả sẽ khác vùng chăn nuôi, vùng trồng dược liệu hay vùng có thế mạnh về lâm nghiệp. Tương tự, chương trình dành cho người trẻ cũng cần khác với chương trình cho lao động trung niên đang muốn chuyển đổi sinh kế.
Đào tạo phải linh hoạt về thời gian, địa điểm và phương thức tổ chức; có thể đưa giảng viên đến cộng đồng, tổ chức học theo mùa vụ hoặc kết hợp giữa học trực tiếp với học liệu số. Cách làm này giúp người dân giảm chi phí đi lại, không phải bỏ dở công việc và có thể áp dụng kiến thức ngay trong quá trình học.
Chính sách giảm nghèo cần chuyển hóa thành cơ hội học nghề và việc làm thực chất
Định hướng phát triển sinh kế thông qua giáo dục nghề nghiệp đã có cơ sở từ các chủ trương, chính sách giảm nghèo và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, yêu cầu hiện nay không chỉ là triển khai đầy đủ các chính sách hỗ trợ, mà còn phải kết nối thành một chuỗi cơ hội thực chất: từ tiếp cận đào tạo, hoàn thành chương trình, được công nhận kỹ năng đến có việc làm hoặc tự tổ chức sản xuất, kinh doanh.
Một trong những mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 là phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ tạo việc làm bền vững, trong đó chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn theo hướng tăng dần tỷ lệ các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ; hằng năm thu hút 3% lao động sang làm các ngành, nghề: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ; có 40% lao động người dân tộc thiểu số biết làm các ngành, nghề: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Để thực hiện mục tiêu, Chương trình ưu tiên đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng hiện đại, chuẩn hóa, số hóa, đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề tại chỗ. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường lao động; đẩy mạnh kết nối cung - cầu, hỗ trợ khởi nghiệp, chuyển đổi việc làm và phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động.
Các chính sách ưu tiên hướng tới lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và các nhóm yếu thế, nhất là người dân tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, địa bàn đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, phụ nữ, người khuyết tật và người lao động cao tuổi.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa đang thay đổi cách thức sản xuất, kinh doanh, giáo dục nghề nghiệp ở vùng khó khăn cũng cần đổi mới để người học không bị bỏ lại phía sau. Công nghệ không chỉ dành cho những ngành nghề hiện đại tại đô thị; nếu được ứng dụng phù hợp, công nghệ có thể giúp nông dân, hộ kinh doanh và cộng đồng dân tộc thiểu số mở rộng cơ hội phát triển kinh tế ngay tại địa phương.
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là đồng hành cùng khoảng 1,4 triệu thanh niên thuộc nhóm NEET - những người không có việc làm, không tham gia học tập và không được đào tạo, hướng tới sự độc lập nghề nghiệp bền vững (Cục Thống kê, 2026). Để giải quyết thách thức này, cần thúc đẩy hợp tác ba bên giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục, đồng thời mở rộng mô hình vừa học vừa làm.
Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hợp tác cần bắt đầu từ những nhu cầu cụ thể của địa phương. Chính quyền cung cấp thông tin về quy hoạch phát triển, nhu cầu lao động và các chương trình hỗ trợ; cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng nội dung đào tạo phù hợp; doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất tham gia hướng dẫn thực hành, tiếp nhận người học và kết nối đầu ra. Người dân, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ, cần được tham gia xác định nhu cầu để chương trình thực sự phù hợp với điều kiện sống và định hướng sinh kế của mình. Ví dụ thực tiễn tại địa phương, năm 2026, Lào Cai đặt mục tiêu tuyển sinh, đào tạo nghề cho hơn 29.500 người, trong đó hỗ trợ học nghề cho 7.000 lao động nông thôn. Đến ngày 10/10/2026, số người được tuyển sinh, đào tạo ở trình độ cao đẳng là 2.991; trung cấp và trung học nghề là 5.324; sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng là 17.362. Riêng số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề mới đạt 2.014 người (Báo Lào Cai điện tử, 2026)
Mô hình đào tạo theo hướng thực hành có thể dành phần lớn thời lượng cho việc giải quyết các vấn đề thực tế, kết hợp học hỏi từ chuyên gia và trang bị kiến thức nền tảng. Mục tiêu của phương pháp này là đưa người học đến gần môi trường lao động ngay từ đầu, thay vì chỉ tiếp nhận lý thuyết rồi mới tìm cách áp dụng sau khi tốt nghiệp. Chuyển đổi số cũng mở ra cơ hội tổ chức các chương trình học linh hoạt hơn. Học liệu mở, lớp học trực tuyến, mô phỏng kỹ thuật và công cụ hỗ trợ bằng AI có thể giúp người học tiếp cận kiến thức mà không phải thường xuyên di chuyển xa. Hồ sơ năng lực số giúp ghi nhận quá trình thực hành và những kỹ năng người học đã đạt được; các hình thức công nhận kết quả học tập trước đó có thể hỗ trợ người lao động từng bước hoàn thiện năng lực nghề nghiệp.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng hạ tầng, kỹ năng số và khả năng tiếp cận bình đẳng. Vì vậy, đầu tư thiết bị, phát triển học liệu phù hợp ngôn ngữ và trình độ người học, hỗ trợ giảng viên đổi mới phương pháp và duy trì những hình thức đào tạo trực tiếp cần thiết vẫn là yêu cầu quan trọng.
Bên cạnh kỹ năng số, giáo dục nghề nghiệp cần quan tâm đến những nghề nghiệp gắn với chuyển đổi xanh. Kỹ thuật canh tác tiết kiệm tài nguyên, quản lý chất thải, chế biến phụ phẩm nông nghiệp, sản xuất theo tiêu chuẩn môi trường và phát triển du lịch có trách nhiệm đều có thể tạo ra cơ hội việc làm mới. Khi kỹ năng xanh được tích hợp vào đào tạo, người dân vừa có thể nâng cao giá trị sản phẩm, vừa góp phần bảo vệ tài nguyên và duy trì sinh kế trước những biến động của môi trường. Công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân. Đối với các mô hình nông nghiệp và du lịch cộng đồng, việc ứng dụng công nghệ còn giúp quảng bá sản phẩm, kể câu chuyện văn hóa địa phương, kết nối khách hàng và theo dõi chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, cần tránh chạy theo công nghệ một cách hình thức. Mỗi giải pháp phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, khả năng vận hành và lợi ích kinh tế mà người dân có thể nhận được.
Đo hiệu quả bằng thu nhập, khả năng tự chủ và sức sống của cộng đồng
Chương trình giáo dục nghề nghiệp hướng tới giảm nghèo bền vững cần được đánh giá bằng những thay đổi thực chất trong đời sống người học. Điều cần quan tâm là sau đào tạo, người học có việc làm; thu nhập ổn định; mô hình sản xuất duy trì được qua các mùa vụ; hộ gia đình giảm phụ thuộc vào trợ cấp; thanh niên có thêm cơ hội phát triển ngay tại địa phương. Những chỉ số này cần được theo dõi trong một khoảng thời gian phù hợp, có phân biệt giữa các nhóm đối tượng và điều kiện địa bàn.
Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy hiệu quả đào tạo nghề phụ thuộc nhiều vào cách thiết kế và theo dõi đầu ra. Khảo sát 1.540 lao động tại 11 tỉnh, thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2017 - 2020 ghi nhận hơn 75% học viên đánh giá đào tạo nghề có hiệu quả và thu nhập tăng sau khóa học (Thành và c.s., 2022). Bằng chứng quốc tế dè dặt hơn: tổng quan 113 đánh giá tác động chương trình việc làm cho thanh niên cho thấy hiệu quả trung bình nhỏ, nhưng cao hơn ở các nước thu nhập thấp và trung bình; các chương trình tích hợp nhiều dịch vụ, có phân loại người học và theo dõi cá nhân hóa đạt kết quả tốt hơn, tác động rõ hơn trong dài hạn (Kluve và c.s., 2019). Nghiên cứu của McKenzie (McKenzie, 2017) cũng lưu ý nhiều đánh giá đào tạo nghề ở các nước đang phát triển không tìm thấy tác động đáng kể đến việc làm hay thu nhập. Hàm ý cho Việt Nam là đào tạo nghề vùng dân tộc thiểu số cần đi kèm tư vấn, kết nối thị trường, hỗ trợ vốn và theo dõi người học ít nhất 12 tháng sau khóa học, thay vì dừng ở chỉ tiêu số người được đào tạo.
Đặc biệt, tác động bao trùm đòi hỏi chương trình phải đến được với những người gặp nhiều rào cản nhất. Phụ nữ dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên không có việc làm và người thuộc hộ nghèo có thể cần hình thức đào tạo, thời gian học và hỗ trợ khác nhau. Bình đẳng trong cơ hội học là tạo điều kiện để mỗi người có thể tiếp cận và hoàn thành chương trình phù hợp với hoàn cảnh của mình.
Một yêu cầu khác là bảo đảm người dân thực sự làm chủ quá trình phát triển. Khi triển khai các mô hình sinh kế, cộng đồng cần được tham gia lựa chọn nghề, xác định cách thức tổ chức sản xuất, xây dựng sản phẩm và phân chia lợi ích. Các nghề truyền thống không nên chỉ được nhìn nhận như một phần di sản cần bảo tồn, mà còn có thể trở thành nền tảng tạo việc làm và thu nhập nếu được kết hợp với thiết kế, quản trị chất lượng, thương mại điện tử và xây dựng thương hiệu.
Để làm được điều đó, cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với hợp tác xã, doanh nghiệp địa phương, tổ chức tín dụng và các đơn vị hỗ trợ thị trường. Các cơ sở đào tạo cũng cần chủ động cập nhật nhu cầu kỹ năng, điều chỉnh chương trình theo sự thay đổi của nền kinh tế và phát triển đội ngũ nhà giáo có năng lực hướng dẫn thực hành, tư vấn nghề nghiệp và hỗ trợ khởi sự kinh doanh.
Di cư lao động vẫn có thể là lựa chọn chính đáng và mang lại lợi ích cho nhiều gia đình, nhưng người dân cần có thêm lựa chọn để phát triển ngay trên quê hương, phù hợp với mong muốn. Giá trị lớn nhất của giáo dục nghề nghiệp trong giảm nghèo bền vững nằm ở khả năng giúp người học tạo dựng một tương lai ổn định bằng chính năng lực của mình. Khi kỹ năng nghề được kết nối với công nghệ, doanh nghiệp, tài nguyên và văn hóa bản địa, mỗi khóa học có thể trở thành điểm khởi đầu cho một sinh kế mới; mỗi người lao động có thể trở thành chủ thể của phát triển, nâng cao thu nhập, từng bước thoát nghèo một cách bền vững.
| Mỗi khóa học có thể trở thành điểm khởi đầu cho một sinh kế mới; mỗi người lao động có thể trở thành chủ thể của phát triển. |
Nhìn tổng thể, việc đặt giáo dục nghề nghiệp vào trung tâm Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035 là hướng đi có cơ sở. Chương trình không dừng ở chỉ tiêu số người được đào tạo mà đặt mục tiêu chuyển dịch lao động: mỗi năm thu hút 3% lao động sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, dịch vụ và có 40% lao động người dân tộc thiểu số biết làm các ngành, nghề này (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2026). Việc gộp ba chương trình mục tiêu quốc gia giúp đào tạo nghề gắn liền với hạ tầng, sinh kế và giảm nghèo trên cùng một địa bàn, đồng thời phù hợp với yêu cầu xây dựng chương trình đào tạo nghề chất lượng cao cho đồng bào dân tộc thiểu số của Nghị quyết số 71-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2025). Khoảng cách 14,6% so với 29,8% lao động qua đào tạo cho thấy dư địa cải thiện còn rất lớn, và bằng chứng quốc tế cho thấy các chương trình như vậy thường hiệu quả hơn ở những nước thu nhập thấp và trung bình (Kluve và c.s., 2019).
Thách thức lớn nhất là nơi tiếp nhận người học sau đào tạo. Tại xã Hữu Kiệm (Nghệ An), tỷ lệ nghèo đa chiều tới 58%, gần 30% dân số phải đi làm ăn ngoài tỉnh, trong khi địa phương chưa có nhà máy, cơ sở chế biến để hấp thụ lao động đã học nghề (Sơn Hào, 2026). Vì vậy, các địa phương cần đặt hàng đào tạo theo nhu cầu của hợp tác xã, doanh nghiệp và chuỗi giá trị nông sản, dược liệu, du lịch cộng đồng; theo dõi việc làm, thu nhập của người học ít nhất 12 tháng sau khóa học; phát triển học liệu song ngữ và đào tạo tại thôn, bản theo mùa vụ. Về nghiên cứu, cần các đánh giá tác động có nhóm đối chứng, dữ liệu tách theo dân tộc, giới và địa bàn để biết mô hình nào thực sự giúp người dân thoát nghèo bền vững.
Tài liệu tham khảo:
Báo Lào Cai điện tử. (2026). Lào Cai đẩy nhanh tiến độ đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Báo Lào Cai điện tử. https://baolaocai.vn/lao-cai-day-nhanh-tien-do-dao-tao-nghe-cho-lao-dong-nong-thon-post912382.html
Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. xaydungchinhsach.chinhphu.vn. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-119250828110759964.htm
Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2026). Quyết định 417/QĐ-BNNMT Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế—Xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030. https://mae.gov.vn/Pages/chitietvanbandh.aspx?ItemID=3483
Cục Thống kê. (2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. General Statistics Office of Vietnam. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/
Kluve, J., Puerto, S., Robalino, D., Romero, J. M., Rother, F., Stöterau, J., Weidenkaff, F., & Witte, M. (2019). Do youth employment programs improve labor market outcomes? A quantitative review. World Development, 114, 237–253. https://doi.org/10.1016/j.worlddev.2018.10.004
McKenzie, D. (2017). How Effective Are Active Labor Market Policies in Developing Countries? A Critical Review of Recent Evidence. The World Bank Research Observer, 32(2), 127–154. https://doi.org/10.1093/wbro/lkx001
Quốc hội. (2025). Nghị quyết 257/2025/QH15 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. https://vbpl.vn/van-ban/chi-tiet/nghi-quyet-so-257-2025-qh15-phe-duyet-chu-truong-dau-tu-chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xay-dung-nong-thon-moi-giam-ngheo-ben-vung-va-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui-giai-doan-2026-2035--20313cb0-7b94-11f1-99a0-cbad75d63ee6
Sơn Hào. (2026). Bài 1: Đào tạo nghề - Không để kỹ năng đứng ngoài sinh kế. media.chinhphu.vn. https://media.chinhphu.vn/dung-sinh-ke-ben-vung-cho-lao-dong-dan-toc-thieu-so-bai-1-102261004022550542.htm
Thành D. N., Pháp V. A., & Tín N. H. (2022). Đánh giá thực trạng lao động và hiệu quả công tác đào tạo nghề nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 58(SDMD), 9–23. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2022.187