Bối cảnh mới và yêu cầu đổi mới đào tạo nhân lực
Nguồn nhân lực luôn được xác định là trung tâm của sự phát triển quốc gia. Đảng và Nhà nước ta nhất quán quan điểm xem GD-ĐT cùng khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc. Trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào lao động giá rẻ sang dựa trên tri thức, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, hệ thống GD-ĐT đứng trước yêu cầu phải tạo ra những đột phá căn bản và toàn diện nhằm cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, khai mạc ngày 20/1/2026 (Hà Nội) với sự tham dự của hơn một nghìn năm trăm đại biểu đại diện cho hàng triệu đảng viên trong cả nước, đã xác lập những định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển 2026–2031. Các văn kiện trình Đại hội tiếp tục nhấn mạnh phát triển con người, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng của tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được xác định như một trụ cột then chốt gắn liền với năng lực cạnh tranh và vị thế quốc gia.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV khẳng định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là yếu tố quyết định để hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo định hướng này, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô đào tạo, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, đồng thời đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài thông qua các cơ chế, chính sách đột phá, cùng với việc cải thiện chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc nhằm giữ chân đội ngũ nhân lực tinh anh trong và ngoài nước.
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, yêu cầu đối với chất lượng nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao. Nguồn nhân lực Việt Nam không chỉ cần nền tảng chuyên môn vững chắc, mà còn phải có kỹ năng số, năng lực ngoại ngữ, khả năng thích ứng trong môi trường làm việc đa văn hóa, cùng tư duy sáng tạo, khát vọng cống hiến và năng lực làm chủ công nghệ. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vì thế phải gắn liền với việc hình thành đội ngũ nhân lực tinh hoa trong các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, chuyển đổi xanh – những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia trong tương lai.
Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay
Nhìn lại chặng đường vừa qua, GD-ĐT Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định, đóng góp quan trọng vào phát triển nhân lực. Đội ngũ trí thức và tỷ lệ lao động qua đào tạo được nâng lên; nhiều cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đã chủ động đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy. Những tiền đề đó giúp chúng ta tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới.
Tuy nhiên, thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho phát triển bứt phá; cơ hội tiếp cận giáo dục của người dân còn thấp so với các nước phát triển và có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền. Đặc biệt, hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phát triển còn manh mún, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Chất lượng đào tạo ở nhiều nơi chưa theo kịp nhu cầu thực tiễn; chương trình còn nặng lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành, chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động. Tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” – sinh viên tốt nghiệp không có việc làm phù hợp trong khi doanh nghiệp thiếu lao động kỹ thuật – phản ánh sự chênh lệch giữa đào tạo của nhà trường và nhu cầu sử dụng nhân lực của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Chế độ đãi ngộ đối với giáo viên, giảng viên còn bất cập; chưa thu hút được nhiều người giỏi gắn bó với sự nghiệp giáo dục. Tâm lý xã hội còn nặng về bằng cấp hơn năng lực thực chất, dẫn đến tình trạng nhiều người có bằng cấp nhưng kỹ năng thực tế yếu. Công tác quản lý giáo dục chậm đổi mới, việc thực hiện tự chủ và xã hội hóa giáo dục còn lúng túng, trong khi nguồn lực đầu tư cho GD-ĐT chưa tương xứng. Tất cả những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo, đặt ra yêu cầu cấp bách phải có các giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ để khắc phục.
Những thách thức đặt ra
Trong giai đoạn tới, nhiệm vụ đổi mới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ gặp nhiều thách thức lớn. Trước hết là thách thức đáp ứng những yêu cầu mới của nền kinh tế – xã hội trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển dựa vào tri thức và công nghệ, đồng nghĩa với nhu cầu rất cao về nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực công nghệ cao và kinh tế số. Điều này đòi hỏi hệ thống đào tạo phải “đi trước một bước” để chuẩn bị nhân lực cho những ngành mới nổi, nếu không sẽ tụt hậu so với thế giới. Hiện nay, quy mô và chất lượng đội ngũ nhân lực khoa học – công nghệ nước ta vẫn còn khoảng cách xa so với các nước phát triển; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu so với yêu cầu của chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đây là thách thức không nhỏ khi Việt Nam đặt mục tiêu vươn lên nhóm dẫn đầu khu vực về công nghệ và sáng tạo.
Thách thức thứ hai đến từ chính những hạn chế nội tại của hệ thống GD-ĐT. Việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng diễn ra chưa đồng đều; nhiều nơi chưa theo kịp sự phát triển của khoa học và nhu cầu doanh nghiệp. Sự “lệch pha” giữa đào tạo và thị trường lao động đòi hỏi nỗ lực phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp để điều chỉnh. Mô hình hợp tác “Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp” tuy đã có và cho thấy hiệu quả, nhưng chưa được nhân rộng một cách hệ thống. Nếu không khắc phục triệt để khoảng cách này, nguồn nhân lực đào tạo ra sẽ khó đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế.
Mặt khác, quá trình toàn cầu hóa giáo dục cũng mang lại những thách thức đáng kể. Một mặt, chúng ta cần tiệm cận các chuẩn mực quốc tế trong đào tạo nhân lực để người lao động Việt Nam có thể cạnh tranh bình đẳng và trở thành “công dân toàn cầu”. Mặt khác, hội nhập quốc tế dễ dẫn đến nguy cơ “chảy máu chất xám” nếu môi trường làm việc và đãi ngộ trong nước không đủ hấp dẫn, khiến nhân tài ra nước ngoài tìm cơ hội phát triển. Đây là bài toán đặt ra cho các nhà quản lý: làm sao tạo được môi trường thuận lợi và cơ hội thăng tiến để giữ chân nhân lực giỏi phục vụ trong nước.
Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trước những yêu cầu cấp bách và thách thức nêu trên, việc đổi mới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đòi hỏi một chương trình hành động toàn diện với nhiều giải pháp đồng bộ. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, coi đây là điều kiện tiên quyết để tạo đột phá về nhân lực chất lượng cao. Trên cơ sở các định hướng đó, có thể đề ra một số giải pháp chiến lược như sau:
Thứ nhất, đổi mới tư duy quản lý và hoàn thiện thể chế GD-ĐT. Cần quán triệt sâu sắc hơn quan điểm GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, thể hiện bằng hành động quyết liệt ở mọi cấp, mọi ngành. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế chính sách để tháo gỡ các điểm nghẽn cản trở sự phát triển của các cơ sở giáo dục; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng theo tinh thần Nghị quyết 71. Khi được trao quyền tự chủ toàn diện (về chuyên môn, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính), các trường sẽ có động lực và không gian sáng tạo để nâng cao chất lượng đào tạo. Song song đó, cơ chế quản trị giáo dục cũng cần chuyển mạnh từ lối quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, minh bạch, lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo.
Thứ hai, phát huy vai trò của hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp trong đào tạo nhân lực chất lượng cao. Các trường đại học phải thực sự trở thành trung tâm đào tạo nhân lực trình độ cao gắn với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học cần được quy hoạch, sắp xếp tinh gọn; tập trung nguồn lực xây dựng một số đại học trọng điểm đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế. Phấn đấu trong thập niên tới, Việt Nam có nhiều trường đại học nằm trong nhóm các đại học hàng đầu châu Á, tiệm cận top 100 thế giới. Để đạt mục tiêu đó, các trường cần tích cực thu hút chuyên gia giỏi, kể cả chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời tăng cường gắn kết với doanh nghiệp và địa phương trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, cần cải cách mạnh mẽ nội dung và phương thức đào tạo theo hướng hiện đại, linh hoạt, bám sát nhu cầu thị trường lao động. Tăng cường thời lượng đào tạo thực hành, đào tạo ngay tại doanh nghiệp; xây dựng các chương trình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của những ngành kinh tế trọng điểm. Mô hình liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp phải được thúc đẩy để người học có kỹ năng sát thực tế khi tốt nghiệp. Nhà nước cũng cần ưu tiên nguồn lực (ngân sách và tín dụng) cho các chương trình đào tạo nghề trong các lĩnh vực công nghệ cao, các dự án chiến lược; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư, thành lập cơ sở đào tạo và hỗ trợ kinh phí đào tạo lại cho người lao động.
Thứ ba, tập trung phát triển đội ngũ nhà giáo, đồng thời thu hút nguồn lực từ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học. Đội ngũ thầy cô giáo là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng giáo dục, do đó cần có chính sách đãi ngộ và tôn vinh xứng đáng. Cải thiện thu nhập, chế độ phúc lợi để giáo viên, giảng viên yên tâm cống hiến; triển khai các chương trình bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực số và ngoại ngữ cho đội ngũ nhà giáo ở tất cả các bậc học. Bên cạnh đó, cần có cơ chế linh hoạt thu hút người tài ngoài hệ thống giáo dục tham gia giảng dạy. Cho phép mời các chuyên gia giỏi, doanh nhân, kỹ sư đầu ngành tham gia làm giảng viên thỉnh giảng; có chế độ đãi ngộ đặc biệt để thu hút giảng viên, nhà khoa học giỏi từ nước ngoài về nước làm việc. Những chính sách như vậy sẽ góp phần tạo nên đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu viên xuất sắc, làm hạt nhân cho các trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh phát huy vai trò của đội ngũ các nhà khoa học và chuyên gia trong việc dẫn dắt hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo. Môi trường làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu phải thực sự hấp dẫn để thu hút và giữ chân các nhà khoa học giỏi. Cần xây dựng các kênh kết nối và cơ chế hợp tác để trí thức Việt Nam ở nước ngoài dễ dàng tham gia các dự án khoa học và đào tạo nhân lực trong nước mà không vướng rào cản thủ tục. Huy động hiệu quả nguồn chất xám từ lực lượng trí thức trong và ngoài nước sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học – công nghệ, đáp ứng yêu cầu phát triển của kỷ nguyên mới.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trong GD-ĐT. Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi ngành giáo dục phải tiên phong trong ứng dụng công nghệ hiện đại. Cần xây dựng hạ tầng dữ liệu số đồng bộ và các nền tảng giáo dục thông minh phục vụ cho hàng triệu người học; đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đổi mới phương pháp dạy – học và kiểm tra, đánh giá nhằm hướng tới cá thể hóa việc học tập theo năng lực người học. Triển khai rộng rãi các mô hình giáo dục số như lớp học ảo, bài giảng trực tuyến, phòng thực hành ảo (virtual lab) để mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cho mọi đối tượng. Song song đó, chú trọng nâng cao năng lực số cho cả người dạy và người học, đưa nội dung về công nghệ số và AI vào chương trình giáo dục phổ thông một cách phù hợp. Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là phương tiện nâng cao chất lượng đào tạo mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng miền, thúc đẩy công bằng trong tiếp cận tri thức.
Hành động trong giai đoạn mới
Đổi mới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong giáo dục vừa là yêu cầu khách quan của thời đại, vừa là nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã xác định cho giai đoạn mới. Những định hướng lớn – từ Văn kiện Đại hội XIV đến các nghị quyết chuyên đề như Nghị quyết 71-NQ/TW và Nghị quyết 57-NQ/TW,... đã tạo nền tảng chính sách quan trọng. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả những định hướng đó trong thực tiễn. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội: từ các cơ quan quản lý nhà nước khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, đến sự chủ động đổi mới của từng cơ sở giáo dục; từ nỗ lực nâng cao trình độ, kỹ năng của mỗi thầy cô giáo cho đến tinh thần ham học hỏi và sáng tạo của mỗi học sinh, sinh viên.
Nguồn nhân lực chất lượng cao chính là “đòn bẩy quyết định” để đất nước bứt phá. Đầu tư cho GD-ĐT hôm nay cũng chính là chuẩn bị những cú hích phát triển cho tương lai. Với quyết tâm chính trị cao và sự chung sức đồng lòng của toàn dân, chúng ta tin tưởng rằng hệ thống GD-ĐT Việt Nam sẽ có những đổi mới mạnh mẽ, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng. Qua đó, một thế hệ người Việt mới sẽ trưởng thành – có tri thức, kỹ năng, bản lĩnh và khát vọng – sẵn sàng gánh vác trọng trách đưa đất nước vươn tới những tầm cao phát triển mới.
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Toàn văn Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. https://tongbithu.daihoidang.vn/trich-dan/toan-van-bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-xiv-cua-dang-post181700.html
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đông Hà (2026). Tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn toàn cầu. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn/tao-nguon-nhan-luc-chat-luong-cao-dap-ung-tieu-chuan-toan-cau-post936604.html