Thứ Ba , 03/11/2026 , 02:26:54 GMT+7

Thông tư 89 chuẩn hóa đề kiểm tra định kỳ lớp 5, 9 và 12: Cần dùng dữ liệu để hỗ trợ, không tạo thêm kỳ thi

Model?.data?.author?.Name
Trịnh Thu

ttthu.vje@moet.edu.vn

Thứ Sáu, 30/10/2026, 22:13:44 GMT+7

Từ 01/12/2026, Sở GDĐT chủ trì đề kiểm tra định kỳ chung một số môn ở lớp 5, 9, 12, thách thức là tránh dạy học theo đề và bất bình đẳng số.


Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT ngày 16/10/2026, có hiệu lực từ 01/12/2026, sửa đổi quy định đánh giá học sinh tiểu học, THCS và THPT. Điểm mới được quan tâm nhất là Sở GDĐT chủ trì xây dựng, thẩm định và cung cấp đề kiểm tra định kỳ chung cho một số môn đánh giá bằng điểm số do sở lựa chọn: lớp 5 ở cuối học kỳ I và cuối năm; lớp 9 và 12 ở cuối học kỳ I và II. Nhà trường vẫn tổ chức coi, chấm và tổng hợp kết quả. Ở THCS, THPT, kiểm tra định kỳ có thể thực hiện trên máy tính nếu đủ hạ tầng, phần mềm và điều kiện vận hành. Điều 15 còn quy định thông báo trước, bảo đảm tính pháp lý của dữ liệu, phương án dự phòng; nếu sự cố ảnh hưởng kết quả, kiểm tra lại hoặc chuyển sang giấy trong không quá 7 ngày làm việc. Có quy định điều chỉnh hợp lý cho học sinh khuyết tật.

Tạp chí giáo dục
Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT ngày 16/10/2026, có hiệu lực từ 01/12/2026

Mục tiêu chính sách là tạo mặt bằng yêu cầu thống nhất hơn giữa các trường, tăng độ tin cậy của điểm số và phát hiện nơi cần hỗ trợ. Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông Thái Văn Tài nhấn mạnh “kiểm tra, đánh giá không chỉ nhằm ghi nhận kết quả tại một thời điểm” mà phải cung cấp thông tin để cải thiện dạy và học. Nếu dữ liệu được phân tích theo nội dung, nhóm học sinh và mức độ tiến bộ, Sở có thể nhận diện trường thiếu nguồn lực, môn học yếu hoặc nhóm học sinh cần phụ đạo. Đây là bước chuyển quan trọng từ điểm số hành chính sang dữ liệu quản trị chất lượng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đánh giá theo những yêu cầu chung có thể đồng thời phục vụ theo dõi hệ thống và hỗ trợ dạy học.

Tại Australia, NAPLAN được tổ chức hằng năm ở các lớp 3, 5, 7 và 9, cung cấp thông tin về năng lực ngôn ngữ và toán học để nhận diện nhu cầu hỗ trợ. Cơ quan quản lý chương trình nhấn mạnh kết quả này bổ sung cho đánh giá của giáo viên, không phản ánh toàn bộ chất lượng nhà trường.

Tại Pháp, đánh giá quốc gia ở nhiều lớp được thực hiện đầu năm nhằm xác định sớm năng lực và khó khăn của học sinh; kết quả cá nhân được trả lại cho giáo viên để điều chỉnh dạy học, đi cùng các nguồn lực hỗ trợ. Bộ Giáo dục Pháp cũng khẳng định đánh giá quốc gia ở tiểu học không nhằm xếp hạng trường. Những mô hình này không hoàn toàn tương đương kiểm tra định kỳ theo Thông tư 89, nhưng gợi mở một nguyên tắc phù hợp: yêu cầu đánh giá chung cần gắn với phản hồi có thể sử dụng, hỗ trợ chuyên môn và giới hạn rõ ràng về cách diễn giải kết quả.

Tuy nhiên, đề chung không tự động tạo ra đánh giá hoàn toàn công bằng. Khác biệt về chương trình đã thực dạy, điều kiện trường, giáo viên, thiết bị và khả năng tiếp cận ôn tập có thể biến một bài kiểm tra giống nhau thành cơ hội không giống nhau. Nếu kết quả bị dùng để xếp hạng hoặc thi đua, trường nhiều khả năng có thể thu hẹp chương trình, dạy theo khuôn đề, tăng ôn luyện và gây áp lực cho học sinh cuối cấp. Đánh giá trên máy tính còn có nguy cơ bất lợi cho địa bàn yếu hạ tầng hoặc học sinh ít trải nghiệm số. Vì vậy, điều kiện tổ chức, tương thích thiết bị, hỗ trợ học sinh khuyết tật và bảo mật dữ liệu phải được kiểm định trước khi mở rộng.

Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT cần được phân biệt với đánh giá diện rộng quốc gia theo Thông tư 08/2026/TT-BGDĐT. Đánh giá diện rộng lấy mẫu, chu kỳ 5 năm, dùng bài khảo sát tích hợp và phiếu hỏi bối cảnh để phục vụ chính sách; kiểm tra định kỳ chung của sở giáo dục và đ ào tạo gắn với đánh giá học sinh trong quá trình học tập, đánh giá kết quả dạy và học, so sánh với chuẩn chung, cũng là một thước đo quan trọng cho mỗi nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Hiểu đúng và không trộn hai chức năng là cần thiết của hai hoạt động đánh giá này là cần thiết. Hơn nữa, điểm kiểm tra định kỳ không đủ để kết luận chất lượng toàn diện của trường, giáo viên hay địa phương. Kết quả cần đi cùng thông tin bối cảnh, sai số đo, yêu cầu bảo mật và quy tắc không công bố bảng xếp hạng một cách giản đơn.

Việc triển khai theo chúng tôi có thể nghiên cứu tiến hành theo các lớp hoạt động/vấn đề như sau. Thứ nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần ban hành yêu cầu kỹ thuật tối thiểu về ma trận, độ khó, độ tin cậy, chuẩn hóa coi và chấm thi và hỗ trợ học sinh có nhu cầu đặc biệt; Sở Giáo dục và Đào tạo nên công khai sớm phạm vi kiến thức, không công bố “đề mẫu” dẫn dắt ôn luyện, dựa trên hệ thống giáo viên cốt cán để xây dựng các đề thi chất lượng và phù hợp với điều kiện của địa bàn, đáp ứng yêu cầu chương trình. Thứ hai, kết quả được trả lại cho trường ở dạng chẩn đoán theo yêu cầu cần đạt, kèm hướng dẫn cải thiện và nguồn lực hỗ trợ. Thứ ba, đánh giá độc lập tác động sau một năm là cần thiết nhằm khám phá mức độ tăng áp lực, thời lượng ôn thi, chênh lệch vùng miền, sự phù hợp của kiểm tra trên máy tính và cách các trường sử dụng dữ liệu. Chính sách này có ảnh hưởng toàn quốc vì thay đổi trực tiếp cách đánh giá ở ba lớp cuối cấp và có thể định hình hành vi dạy và học. Giá trị của nó sẽ không nằm ở việc mọi trường có cùng một đề, mà ở việc hệ thống dùng dữ liệu chung để điều chỉnh dạy học và phân bổ hỗ trợ.

Xét về định hướng, chính sách có thể tạo thêm căn cứ cho đánh giá kết quả giáo dục khi các trường sử dụng đề kiểm tra phù hợp với cùng yêu cầu cần đạt. Tuy nhiên, mức điểm đạt được tại một thời điểm chưa đủ để xác định hiệu quả giáo dục hay phần đóng góp của nhà trường, bởi kết quả còn liên quan đến đầu vào, điều kiện học tập và đặc điểm người học. Muốn đánh giá sự cải thiện, cần theo dõi qua thời gian bằng các công cụ có khả năng so sánh, kết hợp thông tin bối cảnh và minh chứng về những biện pháp hỗ trợ đã thực hiện. Về chuyển đổi số, Thông tư 89 không chỉ mở khả năng kiểm tra trên máy tính mà còn điều chỉnh việc quản lý kết quả qua học bạ số. Theo đó, giá trị cần hướng tới là hình thành quá trình liên tục từ thu thập, kiểm soát chất lượng dữ liệu đến phân tích, phản hồi và điều chỉnh dạy học. Mức độ thành công nên được xem xét qua tính chính xác của dữ liệu, khả năng sử dụng của giáo viên, thời gian xử lý, chi phí vận hành và mức độ tiếp cận công bằng; tỷ lệ bài kiểm tra thực hiện trên máy tính chỉ phản ánh một phần của quá trình chuyển đổi.


Tài liệu tham khảo

Báo cáo viên. (2026). Cả tỉnh, thành phố chung đề kiểm tra cuối kỳ: Mong triển khai ở tất cả các khối lớp. https://baocaovien.vn/tin-tuc/ca-tinh-thanh-pho-chung-de-kiem-tra-cuoi-ky-mong-trien-khai-o-tat-ca-cac-khoi-lop/430731.html

Báo Tin tức và Dân tộc. (2026, October 30). Chuẩn hóa chất lượng, giảm áp lực thi cử cho học sinh. https://baotintuc.vn/chuan-hoa-chat-luong-giam-ap-luc-thi-cu-cho-hoc-sinh-post1397917.html

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026a). Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=220070&pageid=27160&typegroupid=6

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2026b). Thông tư số 08/2026/TT-BGDĐT về đánh giá diện rộng cấp quốc gia chất lượng giáo dục phổ thông. https://vqa.moet.gov.vn/uploads/news/2026_03/08_2026_tt_bgddt.signed.pdf

Cục Quản lý chất lượng. (2026, March 4). Một số điểm mới Thông tư số 08/2026/TT-BGDĐT. https://vqa.moet.gov.vn/vi/news/tin-tuc-su-kien/mot-so-diem-moi-thong-tu-so-08-2026-tt-bgddt-ban-hanh-quy-dinh-ve-danh-gia-dien-rong-cap-quoc-gia-chat-luong-giao-duc-pho-thong-247.html

Tiền Phong. (2026, October 23). Chấm dứt tình trạng mỗi trường một kiểu đánh giá. https://tienphong.vn/cham-dut-tinh-trang-moi-truong-mot-kieu-danh-gia-post1887673.tpo

PV/BTV

Trịnh Thị Thu

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận