Thứ Sáu , 27/02/2026 , 09:23:07 GMT+7

Siết chặt quản lý tên gọi và nâng chuẩn công nhận “đại học”

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Hai, 05/01/2026, 10:23:42 GMT+7

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) có nhiều nội dung mang tính đột phá. Trong đó, việc siết chặt quy định đặt tên cơ sở giáo dục đại học và tiêu chí công nhận danh hiệu “đại học” được chú trọng như một bước tiến quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, minh bạch thông tin và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đặt ra nhiều yêu cầu mới trong việc tổ chức, quản lý và phát triển hệ thống đại học Việt Nam. Để Luật đi vào thực tiễn, Bộ GDĐT đang xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục đại học. Trong đó quy định chi tiết các nguyên tắc, điều kiện và tiêu chí quan trọng liên quan đến việc đặt tên cơ sở giáo dục đại học, công nhận các loại hình đại học (đại học, đại học vùng, đại học quốc gia) và các điều kiện cần để nâng cấp lên danh hiệu “đại học”.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển giáo dục đại học chất lượng cao, tăng cường minh bạch và định vị quốc tế, Dự thảo Nghị định thể hiện nỗ lực lớn trong đổi mới quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học. Tuy nhiên, những thay đổi này cũng đặt ra không ít thách thức thực tiễn, từ phía các cơ sở giáo dục, đến người học và toàn bộ hệ thống giáo dục đại học.

Siết chặt quy định đặt tên cơ sở giáo dục đại học

Một trong những nội dung thu hút sự quan tâm tại Dự thảo là quy định chặt chẽ việc đặt tên cho cho các cơ sở giáo dục đại học và phân hiệu. Bộ GDĐT cho rằng hiện nay, việc đặt tên còn chưa được quy định chặt chẽ và dễ gây nhầm lẫn về loại hình, chất lượng, phạm vi hoạt động và vị thế của trường trong hệ thống.

Theo Dự thảo, tên của cơ sở giáo dục đại học không được gây hiểu lầm về loại hình, quyền cấp bằng, tính chất sở hữu hay vị thế; không sử dụng các từ, cụm từ mang tính “quốc gia”, “quốc tế”, “Việt Nam”… trừ khi được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Các tên tiếng nước ngoài hoặc tên giao dịch quốc tế phải dịch tương đương từ tên tiếng Việt, không được làm tăng mức độ hay vị thế so với tên chính thức. Quy định này nhằm tránh sự mơ hồ và lạm dụng danh xưng - một vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới cũng phải tính đến khi quản lý tên trường. Việc công khai rõ ràng tên gọi theo loại hình hoạt động và quyền cấp bằng sẽ giúp người học, xã hội nhận diện đúng giá trị và vị thế của từng cơ sở. Đây cũng là bước cần thiết để tránh đánh đồng chất lượng giữa các cơ sở đại học, đặc biệt giữa đại học trong nước và các đơn vị liên kết quốc tế.

Nâng chuẩn các tiêu chí công nhận “đại học”

Một nội dung then chốt được Dự thảo đề cập là nâng chuẩn các tiêu chí để công nhận trường được gọi là “đại học” (thay vì chỉ chuyển từ “trường đại học” lên “đại học” như trước). Đây là bước chuyển quan trọng trong quản lý dựa trên tiêu chí chất lượng đào tạo và nghiên cứu.

Dự thảo đưa ra nhiều tiêu chí cụ thể về quy mô đào tạo và chất lượng, bao gồm:

Số lượng trường thành viên: Một đại học cần có số lượng đơn vị thành viên tối thiểu (ví dụ: 5 trường), thay vì 3 như trước.

Quy mô người học: Ít nhất 25.000 sinh viên chính quy.

Đào tạo sau đại học: Có tối thiểu 25 ngành đào tạo trình độ tiến sĩ.

Tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ: Tối thiểu 60%.

Tỷ lệ giảng viên quốc tế, sinh viên quốc tế và các chỉ số về sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tạp chí giáo dục
Tạp chí giáo dục
Tạp chí giáo dục
Cả nước hiện có 12 đại học, trong đó có 2 đại học quốc gia, 3 đại học vùng và 7 đại học được nâng cấp lên từ “trường đại học” (Nguồn: website trường)

Ngoài ra, Dự thảo cũng phân định rõ thẩm quyền công nhận giữa Bộ trưởng Bộ GDĐT và Thủ tướng Chính phủ đối với các loại hình đại học khác nhau, nhằm tăng hiệu lực quản lý và tránh chồng chéo.
Việc đưa ra tiêu chí cụ thể là một bước tiến quan trọng trong xây dựng hệ thống đại học chất lượng, phù hợp với thông lệ quốc tế. Thay vì chỉ xét theo quy mô trường hay số lượng ngành đào tạo, các tiêu chí mới nhấn mạnh vào năng lực đào tạo sau đại học, chất lượng nghiên cứu khoa học, sự đa dạng học thuật và mức độ quốc tế hóa - điều mà nhiều đại học tiên tiến trên thế giới đều hướng tới. Tuy nhiên, những tiêu chí này cũng đặt ra thách thức lớn đối với nhiều trường đại học hiện nay, đặc biệt các cơ sở tư thục hoặc đại học vùng. Để đáp ứng tiêu chí hơn 60% giảng viên có trình độ tiến sĩ hay có ít nhất 25 ngành đào tạo tiến sĩ đòi hỏi nguồn lực lớn về nhân sự, cơ sở vật chất và chiến lược phát triển lâu dài. Điều này đặt ra bài toán về chất lượng nhân lực, tài chính và thu hút nhân tài. Đây là những vấn đề mà hệ thống đại học Việt Nam đang nỗ lực giải quyết.

Phạm vi điều chỉnh và hướng dẫn chuyển đổi mô hình

Dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết việc chuyển đổi mô hình hoạt động của cơ sở giáo dục đại học tư thục sang hoạt động không vì lợi nhuận. Mô hình này cho phép các cơ sở không chỉ trông chờ vào học phí mà còn vận hành theo định hướng phục vụ xã hội và cộng đồng; đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận các ưu đãi chính sách liên quan đến giáo dục phi lợi nhuận.

Việc quy định chuyển đổi mô hình có thể giúp nhiều cơ sở đại học tư thục tái cấu trúc hoạt động, thu hút đầu tư dài hạn và tăng tính bền vững. Đây cũng phù hợp với xu hướng khuyến khích đại học tư thục phi lợi nhuận - vốn được coi là mô hình phát triển giáo dục đại học hiệu quả ở nhiều nước phát triển.

Tuy nhiên, chính sách này cũng đặt ra câu hỏi về quy trình, điều kiện và hậu kiểm đối với mô hình mới, nhất là trong bối cảnh các cơ sở tư thục hiện nay hoạt động chủ yếu theo cơ chế thị trường.

Kỳ vọng và thách thức trong quá trình hoàn thiện

Dự thảo Nghị định được xây dựng trong bối cảnh Luật Giáo dục đại học mới được Quốc hội thông qua, với mục tiêu đưa giáo dục đại học Việt Nam bước sang giai đoạn mới: minh bạch hơn, chất lượng cao hơn và hội nhập sâu rộng hơn. Trước hết, các quy định mới góp phần tăng cường tính minh bạch, giúp xã hội và người học nhận diện rõ hơn về loại hình, vị thế và chất lượng của từng cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, việc nâng chuẩn công nhận và quản lý thống nhất cũng tạo nền tảng để định hướng phát triển đại học Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, nhất là trong tổ chức đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập. Thông qua việc nhấn mạnh các tiêu chí về đào tạo sau đại học, đội ngũ giảng viên và sản phẩm nghiên cứu, chính sách mới được kỳ vọng sẽ thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng đào tạo ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ.

Tuy nhiên, đi cùng với những kỳ vọng đó là không ít thách thức trong quá trình triển khai. Các tiêu chí được đặt ra khá cao và khắt khe, khiến nhiều cơ sở giáo dục đại học hiện nay, đặc biệt là các trường quy mô nhỏ, quy mô vừa hoặc các trường tư thục, có thể gặp khó khăn trong việc đáp ứng trong ngắn hạn. Việc điều chỉnh mô hình tổ chức, bổ sung đội ngũ giảng viên trình độ cao và mở rộng năng lực nghiên cứu đòi hỏi nguồn lực lớn, cả về tài chính lẫn nhân sự. Bên cạnh đó, bài toán cân bằng giữa vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước với yêu cầu bảo đảm quyền tự chủ đại học trong thực tiễn cũng tiếp tục là vấn đề cần được giải quyết thận trọng, nhằm vừa nâng cao chất lượng hệ thống, vừa tạo không gian phát triển linh hoạt cho các cơ sở giáo dục đại học.

Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học là bước tiếp nối quan trọng trong lộ trình đổi mới toàn diện hệ thống đại học Việt Nam. Với những quy định mới về đặt tên, công nhận danh hiệu đại học, quy định tiêu chí chất lượng và hướng dẫn chuyển đổi mô hình hoạt động, Dự thảo phản ánh nỗ lực của Nhà nước trong nâng cao chất lượng, tính minh bạch và hội nhập quốc tế của hệ thống giáo dục đại học. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là giai đoạn thực thi: quy định có thực sự khả thi và thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học phát triển vững mạnh hay không phụ thuộc vào sự đồng thuận, hỗ trợ chính sách và tinh thần đổi mới của toàn bộ hệ thống. Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội để hệ thống đại học Việt Nam vươn lên mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.

Cả nước hiện có 12 đại học, trong đó có 2 đại học quốc gia, 3 đại học vùng và 7 đại học được nâng cấp lên từ “trường đại học”, bao gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học Duy Tân và Đại học Phenikaa.

Bạn đọc có thể xem chi tiết dự thảo Nghị định TẠI ĐÂY

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận