Đề tài nghiên cứu khoa học cần giải quyết được bài toán thực tiễn, đi cùng cơ chế chấp nhận rủi ro
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến Dự thảo Thông tư quy định về quản lý nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo do Bộ tài trợ, đặt hàng. Dự thảo được xây dựng trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời gắn với những thay đổi của hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Một trong những điểm đáng chú ý là phạm vi quản lý được mở rộng, không chỉ tập trung vào các đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ mà bao gồm nhiệm vụ đổi mới sáng tạo; đồng thời mở rộng đối tượng tham gia tới các cơ sở giáo dục đại học tư thục, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan. Cách tiếp cận này cho thấy hoạt động nghiên cứu đang được nhìn nhận theo một chuỗi rộng hơn, từ xác định nhiệm vụ, tài trợ, tổ chức thực hiện đến ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả. Đây là thay đổi cần thiết khi yêu cầu đối với nghiên cứu khoa học hiện nay phải có khả năng chuyển hoá thành công nghệ, sản phẩm, từ đó giải quyết được những bài toán đặt ra từ thực tiễn.
Ngoài ra, Dự thảo Thông tư quy định cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Theo đó, trường hợp kết quả nghiên cứu không đạt mục tiêu đề ra do những rủi ro khoa học hợp lý có thể được chấp nhận; đồng thời Dự thảo phân biệt rủi ro khoa học với những vi phạm trong quản lý, tổ chức thực hiện. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt đối với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Cơ chế chấp nhận rủi ro theo quy định sẽ tạo cơ sở để khuyến khích nghiên cứu mới, nghiên cứu có tính thử nghiệm và các hoạt động đổi mới sáng tạo, đồng thời phân biệt rủi ro khoa học với vi phạm trong quản lí, tổ chức thực hiện.
Như vậy, tăng đầu tư cho khoa học cần đi cùng với một cơ chế quản trị rủi ro phù hợp. Nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ tính minh bạch, trách nhiệm tài chính, tiến độ và chất lượng thực hiện nhưng không nên đồng nhất một kết quả nghiên cứu không đạt mục tiêu với một sai phạm. Dự thảo Thông tư cũng có sự phân loại nhiệm vụ: nghiên cứu cơ bản chú trọng công bố khoa học có uy tín và đào tạo nghiên cứu sinh; trong khi nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ hướng tới sản phẩm, quy trình, giải pháp, mô hình có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc thương mại hóa.
Cách phân loại này cần được duy trì khi xây dựng chính sách đầu tư. Không nên áp dụng một thước đo duy nhất cho mọi loại hình nghiên cứu. Nghiên cứu cơ bản cần được đầu tư để tạo nền tảng tri thức; nghiên cứu ứng dụng cần được đầu tư để giải quyết bài toán cụ thể; còn đổi mới sáng tạo cần được hỗ trợ để đưa kết quả nghiên cứu vào đời sống và thị trường.
Đặt hàng chiến lược, tập trung nguồn lực cho các hướng ưu tiên
Theo TS. Lê Viết Khuyến - Nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong quá trình phát triển mô hình đại học khởi nghiệp - đổi mới sáng tạo, một trong những điểm nghẽn của Việt Nam hiện nay là tài chính, đầu tư và hạ tầng R&D. Ông cho rằng đầu tư công cho đại học còn phân tán, ngắn hạn và thiếu gắn kết với chiến lược công nghệ quốc gia; trong khi các trường còn thiếu phòng thí nghiệm trọng điểm, quỹ tài trợ ý tưởng và các không gian đổi mới sáng tạo. Trong điều kiện nguồn lực còn có giới hạn, nếu kinh phí nghiên cứu được phân bổ dàn trải cho quá nhiều nhiệm vụ nhỏ, khó hình thành những nhóm nghiên cứu đủ mạnh, phòng thí nghiệm đủ hiện đại hay các chương trình nghiên cứu có khả năng tạo ra sản phẩm mang tính đột phá.
Do đó, cơ chế đặt hàng cần gắn với việc xác định một số lĩnh vực ưu tiên có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển đất nước. Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng, công nghệ giáo dục, công nghệ y tế... đòi hỏi nguồn lực lớn, thời gian nghiên cứu dài và sự tham gia của nhiều chủ thể. Nhà nước có thể đóng vai trò dẫn dắt bằng cách xác định bài toán, đầu tư ban đầu, xây dựng hạ tầng nghiên cứu và tạo cơ chế để doanh nghiệp cùng tham gia. Khi đó, tiền ngân sách không chỉ được sử dụng để “mua” một kết quả nghiên cứu mà còn trở thành nguồn vốn kích hoạt cả hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết số 03/NQ-CP và các chương trình hành động cập nhật của Chính phủ đã cụ thể hóa việc triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, cho thấy yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đang được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Từ góc độ đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu cần được kết nối với chiến lược phát triển ngành, địa phương và doanh nghiệp. Một bài toán nghiên cứu tốt không chỉ xuất phát từ nhu cầu của nhà khoa học mà còn phải được hình thành từ nhu cầu phát triển. Dự thảo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện rõ định hướng này khi cho phép hội đồng xét tài trợ, đặt hàng và tổ thẩm định đối với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo có sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia đổi mới sáng tạo; đồng thời ưu tiên các nhiệm vụ có doanh nghiệp, tổ chức, nhà đầu tư, quỹ đầu tư hoặc chuyên gia có kinh nghiệm về ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Chuyên gia cũng nhấn mạnh mô hình “ba nhà” gồm Nhà nước - doanh nghiệp - nhà trường cần trở thành động lực của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhà nước tạo thể chế và đặt hàng chiến lược; doanh nghiệp mang đến nhu cầu và nguồn lực thị trường; còn đại học giữ vai trò sản sinh và chuyển hóa tri thức. Từ cách tiếp cận này, cần thay đổi quan niệm về vai trò của trường đại học trong nghiên cứu. Đại học không chỉ là nơi thực hiện các đề tài mà cần trở thành một trung tâm tạo ra tri thức, công nghệ và giá trị mới. Các văn phòng chuyển giao công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm dùng chung, vườn ươm và các quỹ hỗ trợ nghiên cứu cần được phát triển đồng bộ.
Đặc biệt, cơ chế tài chính phải đủ linh hoạt để một kết quả nghiên cứu có tiềm năng không bị “đứt gãy” sau khi đề tài kết thúc. Đây là khoảng trống thường xuất hiện giữa nghiên cứu và thương mại hóa: đề tài đã hoàn thành nhưng sản phẩm chưa đạt mức sẵn sàng để doanh nghiệp tiếp nhận, trong khi nguồn kinh phí tiếp theo chưa được xác định. Vì vậy, đầu tư cho khoa học cần được thiết kế theo chuỗi nghiên cứu - phát triển - thử nghiệm - hoàn thiện - chuyển giao - thương mại hóa, với những cơ chế tài chính phù hợp ở từng giai đoạn.
TS. Lê Viết Khuyến cho rằng một trong những điều kiện để đại học chuyển sang mô hình đổi mới sáng tạo là phải có hạ tầng R&D hiện đại, cơ chế tài chính linh hoạt và văn hóa khuyến khích thử nghiệm, chấp nhận rủi ro hợp lý. Do đó, bên cạnh kinh phí cho từng nhiệm vụ, cần có chính sách đầu tư cho những nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và các chương trình nghiên cứu dài hạn. Đây là cách tạo năng lực nội sinh thay vì chỉ giải quyết từng đề tài riêng lẻ.
Mặt khác, việc đánh giá hiệu quả đầu tư cũng cần được đổi mới. Với nghiên cứu cơ bản, cần coi trọng chất lượng công bố, đào tạo nhân lực và đóng góp vào nền tảng tri thức. Với nghiên cứu ứng dụng, cần quan tâm tới công nghệ, quy trình, sản phẩm và khả năng chuyển giao. Với đổi mới sáng tạo, cần đánh giá thêm khả năng hình thành sản phẩm, doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và tác động kinh tế - xã hội. Như vậy, đầu tư cho khoa học không nên chỉ được đo bằng số tiền đã chi hay số đề tài đã nghiệm thu, mà phải được nhìn từ năng lực tri thức và giá trị mà hệ thống nghiên cứu tạo ra.
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến mở rộng cơ chế tài trợ, đặt hàng, bổ sung nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, tăng sự tham gia của doanh nghiệp và chấp nhận rủi ro khoa học là những bước đi đáng chú ý trong quá trình đổi mới phương thức quản lý nghiên cứu. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng là tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài chính, sở hữu trí tuệ, tự chủ đại học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khi Nhà nước đặt đúng bài toán, đầu tư đủ và đúng chỗ; nhà khoa học có không gian sáng tạo; doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu và thị trường trở thành nơi kiểm chứng kết quả, nguồn lực dành cho khoa học mới có thể tạo ra hiệu quả lớn hơn.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí động lực quan trọng của phát triển, tăng đầu tư cho nghiên cứu là điều kiện cần, nhưng đặt hàng đúng và tổ chức dòng vốn nghiên cứu theo chuỗi giá trị mới là điều kiện để biến nguồn lực thành kết quả. Khi đó, nghiên cứu khoa học không dừng lại ở một công trình hay một công bố, mà có thể trở thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và những giải pháp phục vụ trực tiếp cho phát triển đất nước.