Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học không phải là một chủ trương mới, nhưng đến nay đang được triển khai với quyết tâm và tầm nhìn dài hạn. Tinh thần này được thể hiện rõ trong Kết luận số 91-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; đồng thời được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Mục tiêu hướng tới là xây dựng một thế hệ công dân có năng lực ngoại ngữ đủ để học tập, nghiên cứu, làm việc trong môi trường quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu về nguồn nhân lực có khả năng sử dụng tiếng Anh càng trở nên cấp thiết. Hầu hết tri thức khoa học mới, các công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, dữ liệu lớn, điện toán đám mây hay công nghệ sinh học đều cần tiếp cận bằng tiếng Anh. Nếu không có năng lực ngoại ngữ, người học sẽ gặp nhiều hạn chế trong tiếp cận tri thức, nghiên cứu khoa học cũng như hợp tác quốc tế. Vì vậy, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai không chỉ phục vụ việc học ngoại ngữ mà còn là giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Nếu trước đây, tiếng Anh chủ yếu được dạy như một môn học với mục tiêu giúp học sinh đạt điểm số hoặc thi lấy chứng chỉ, thì định hướng mới là xây dựng môi trường để tiếng Anh được sử dụng thường xuyên trong các hoạt động giáo dục.
Hà Nội là một trong số các địa phương xây dựng mô hình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học trong năm học mới. Vừa qua, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 259/KH-UBND triển khai Đề án "Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học" trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035. Theo kế hoạch, ngay trong năm học 2026-2027, thành phố dự kiến lựa chọn 20 cơ sở giáo dục từ bậc mầm non đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên để triển khai thí điểm.
Các đơn vị được chia thành ba mô hình tương ứng với ba mức độ thực hiện gồm: mức độ 1 (cơ bản, khởi động), mức độ 2 (nâng cao) và mức độ 3 (mũi nhọn, dẫn dắt). Ở mức độ 1, các trường tổ chức hoạt động làm quen, giao tiếp, trải nghiệm bằng tiếng Anh, hình thành thói quen sử dụng ngôn ngữ này hằng ngày, đồng thời từng bước ứng dụng học liệu số và công nghệ trong giảng dạy. Đối với mức độ 2, các cơ sở giáo dục mở rộng môi trường sử dụng tiếng Anh, tăng cường hoạt động trải nghiệm, giao lưu và tổ chức một số nội dung học tập bằng tiếng Anh.
Trong khi đó, mức độ 3 dành cho những trường có điều kiện thuận lợi và khả năng lan tỏa mô hình. Nhóm này sẽ xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh ở mức cao, tổ chức nhiều môn học và hoạt động bằng tiếng Anh, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, đồng thời hỗ trợ chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm cho các cơ sở giáo dục khác.
Theo Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội, việc triển khai đề án được thực hiện đồng bộ trên toàn thành phố từ năm học 2026-2027, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục, từng địa phương và từng cấp học. Quá trình triển khai lấy người học làm trung tâm, chú trọng xây dựng môi trường học tập, giao tiếp và sử dụng tiếng Anh thường xuyên cả trong và ngoài nhà trường.
Các trường được lựa chọn sẽ trở thành hạt nhân để thử nghiệm phương pháp tổ chức dạy học, xây dựng môi trường sử dụng tiếng Anh, đào tạo đội ngũ giáo viên, phát triển học liệu cũng như đánh giá hiệu quả triển khai.
Sau giai đoạn thí điểm, các kinh nghiệm thực tiễn sẽ được tổng kết để hoàn thiện mô hình phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Đây cũng là cách tiếp cận thận trọng, tránh triển khai đại trà khi chưa chuẩn bị đầy đủ về đội ngũ, cơ sở vật chất và chương trình.
Để triển khai đề án, Hà Nội xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: nâng cao nhận thức; xây dựng mô hình điểm và đội ngũ giáo viên nòng cốt; phát triển môi trường học tập bằng tiếng Anh; tổ chức các chương trình giáo dục và dạy học bằng tiếng Anh; phát triển đội ngũ, đổi mới phương pháp giảng dạy; tăng cường hợp tác quốc tế và huy động nguồn lực; xây dựng hệ thống khảo sát, đánh giá và theo dõi kết quả thực hiện. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% cơ sở giáo dục xây dựng và duy trì môi trường học tập, giao tiếp, sử dụng tiếng Anh phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời phấn đấu 90% cơ sở giáo dục đạt mức độ 1, 35% đạt mức độ 2 và 10% đạt mức độ 3. Đến năm 2035, các tỷ lệ này lần lượt được nâng lên 100%, 50% và 20%.
Từ bước đi thí điểm của Hà Nội có thể kỳ vọng sẽ hình thành những mô hình hiệu quả, tạo cơ sở thực tiễn để nhân rộng trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, để chủ trương này đi thực tiễn, cần có sự chuẩn bị đồng bộ về đội ngũ giáo viên, chương trình, học liệu, hạ tầng công nghệ và cơ chế đầu tư phù hợp, đồng thời bảo đảm mọi học sinh, dù ở thành thị hay nông thôn, đều có cơ hội tiếp cận bình đẳng với môi trường học tập bằng tiếng Anh.