Yêu cầu cấp thiết trong sắp xếp cơ sở giáo dục, đội ngũ giáo viên
Theo định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trọng tâm của việc sắp xếp đã được chuyển từ giảm đầu mối một cách cơ học sang tái cấu trúc mạng lưới cơ sở giáo dục dựa trên quy mô dân số, phân bố dân cư, điều kiện địa lý, nhu cầu học tập và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục. Bộ cũng định hướng thí điểm mô hình một trường chính có các phân hiệu, điểm trường; hợp nhất các đầu mối quản lý để hình thành những cơ sở giáo dục có quy mô phù hợp, qua đó giảm biên chế quản lý nhưng tăng nguồn lực trực tiếp cho giảng dạy.
Theo lộ trình, từ ngày 01/7/2026 các địa phương bắt đầu thí điểm sáp nhập đầu mối quản lý cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn. Trước ngày 30/8/2026 phải hoàn thành giai đoạn thí điểm, thiết lập mạng lưới trường lớp và bộ máy quản trị để vận hành từ năm học 2026-2027. Sau quá trình đánh giá, việc sáp nhập, hợp nhất tiếp tục được triển khai từ tháng 3/2027 và hướng tới hoàn thành toàn diện việc tinh gọn các đầu mối quản lý trước ngày 30/4/2027.
Mục tiêu giảm đầu mối ít nhất 30% đầu mối công lập hiện có tạo ra áp lực thực hiện lớn đối với các địa phương: Làm thế nào để giảm đầu mối nhưng không làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục, không tạo thêm khoảng cách địa lý cho học sinh và không làm xáo trộn hoạt động dạy học. Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu quyết liệt sắp xếp cơ sở giáo dục, đồng thời kịp thời giải quyết chế độ, chính sách đối với viên chức, nhân viên, người lao động chịu tác động của quá trình sắp xếp. Điều này cho thấy, bài toán sắp xếp trường học phải được nhìn nhận đồng thời trên ba phương diện: mạng lưới, chất lượng giáo dục và con người.
Phương án sắp xếp của các địa phương có quy mô mạng lưới trường học lớn
Phương án tổng thể vừa được Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt cho thấy tính quy mô và mức độ phức tạp của quá trình này. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, Thành phố Hồ Chí Minh có 2.188 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập, gồm 694 trường mầm non, 778 trường tiểu học, 449 trường trung học cơ sở, 159 trường trung học phổ thông cùng các trường liên cấp, trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và trường chuyên biệt. Với mạng lưới lớn như trên, việc giữ nguyên toàn bộ các đầu mối như trước đây có thể dẫn tới sự phân tán về nguồn lực và tạo áp lực lớn cho công tác quản lý tại cấp xã, phường. Thành phố đánh giá nhiều trường còn có quy mô nhỏ, phân tán, chưa phù hợp với không gian phát triển và quy mô dân số của đơn vị hành chính mới.
Đáng chú ý, phương án của Thành phố Hồ Chí Minh không đặt mục tiêu sáp nhập tất cả các trường. Thành phố ưu tiên sáp nhập cơ sở giáo dục mầm non có quy mô dưới 10 nhóm, lớp và trường phổ thông dưới 28 lớp. Sau sắp xếp, trường mầm non có tối đa 30 nhóm, lớp; trường phổ thông tối đa 100 lớp và không quá ba điểm trường. Đồng thời, trường chuyên, trường chuyên biệt, các cơ sở đang thực hiện chương trình giáo dục chất lượng cao, tiên tiến, hội nhập khu vực và quốc tế được xác định không thuộc diện sắp xếp, với một số ngoại lệ cụ thể. Cách làm này cho thấy một nguyên tắc sáp nhập là phải dựa trên đặc điểm dân cư, khoảng cách đi lại, quy mô học sinh, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và đặc thù của từng cơ sở.
Thành phố Hồ Chí Minh cũng dự kiến hai mô hình quản trị sau sắp xếp: trường một cấp học quy mô lớn có các phân hiệu và trường phổ thông nhiều cấp học quy mô lớn. Bộ máy quản lý, hành chính - nhân sự được dùng chung, trong khi các phân hiệu có thể bố trí cán bộ quản lý phụ trách tùy quy mô và khoảng cách địa lý. Điểm đáng chú ý nhất trong phương án của thành phố là yêu cầu “giảm biên chế quản lý giáo dục, tăng biên chế trực tiếp giảng dạy”. Đây chính là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của việc sắp xếp. Nếu sau sáp nhập, số lượng đầu mối giảm nhưng đội ngũ giáo viên vẫn thiếu, trong khi bộ máy quản lý không thực sự được tinh gọn thì mục tiêu tái cấu trúc sẽ chưa đạt được.
Không chỉ Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều địa phương cũng đang xây dựng phương án theo hướng vừa thực hiện yêu cầu tinh gọn, vừa hạn chế tác động đến người học.
Tại Hà Nội, phương án được xây dựng theo hướng cơ bản giữ ổn định hệ thống trường trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học, trường liên cấp và mầm non công lập hiện có, chỉ điều chỉnh, sắp xếp khi cần thiết và theo hướng thuận tiện phục vụ nhu cầu của người dân, học sinh.
Sau đó, Hà Nội tiếp tục cụ thể hóa tiêu chí sắp xếp theo mô hình trường chính và các phân hiệu. Các tiêu chí về quy mô lớp học, số học sinh, điều kiện địa lý được đặt ra nhằm hình thành những trường có quy mô đủ lớn để tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ và nâng cao năng lực quản trị. Theo phương án được công bố, Hà Nội đặt ra các quy mô tối thiểu khác nhau đối với trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và trường nhiều cấp học.
Trong khi đó, tại các địa phương có địa bàn rộng, dân cư phân tán, vùng miền núi, biên giới hoặc điều kiện giao thông khó khăn, việc áp dụng một mô hình thống nhất lại càng không phù hợp. Thực tế này cho thấy, cùng một mục tiêu chung nhưng phương án tổ chức mạng lưới không thể “đóng khung” cho mọi địa phương. Vì vậy, yêu cầu giảm đầu mối cần được thực hiện trên nền tảng dữ liệu. Quy mô dân số, tốc độ tăng dân số, phân bố học sinh, bán kính phục vụ, điều kiện giao thông, hiện trạng trường lớp, số lượng giáo viên, chất lượng giáo dục và khả năng mở rộng cơ sở vật chất phải được xem xét đồng thời.
Sắp xếp trường học phải đặt quyền lợi học sinh ở trung tâm
Các hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều yêu cầu hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến hoạt động dạy học, tâm lý của học sinh, nhà giáo và cha mẹ học sinh; đặc biệt phải tổ chức thực hiện linh hoạt ở miền núi, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với giáo viên, sắp xếp trường học có thể tạo ra những thay đổi về vị trí việc làm, nhiệm vụ, nơi công tác và cơ cấu quản lý. Do đó, việc bố trí, điều chuyển, tuyển dụng bổ sung hoặc giải quyết chế độ đối với người chịu tác động cần được thực hiện song song với sắp xếp cơ sở giáo dục, thay vì chờ đến khi mô hình trường mới hình thành mới xử lý.
Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn đang đối mặt với tình trạng thiếu giáo viên. Nếu sắp xếp tốt, nguồn lực dư thừa cục bộ có thể được điều tiết tới nơi thiếu; cán bộ quản lý có thể được cơ cấu lại; giáo viên có thể tập trung nhiều hơn cho hoạt động chuyên môn. Nhưng nếu thực hiện thiếu tính toán, việc sáp nhập có thể làm phát sinh tình trạng thừa - thiếu giáo viên cục bộ hoặc gia tăng áp lực đi lại, công việc đối với nhà giáo. Phương án của Thành phố Hồ Chí Minh đã đặt mốc trước ngày 30/12/2026 để đánh giá toàn diện tác động, ổn định quản trị, tài chính, tài sản công và bảo đảm hoạt động dạy học không bị gián đoạn. Đây là yêu cầu cần được thực hiện thực chất, bởi hiệu quả của sắp xếp chỉ có thể được kiểm chứng sau khi mô hình mới vận hành trong thực tế.
Sắp xếp mạng lưới giáo dục công lập là một cuộc tái cấu trúc lớn, tác động trực tiếp đến học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và đời sống của nhiều gia đình. Vì vậy, tinh gọn không thể chỉ được đo bằng số lượng trường giảm đi. Thước đo quan trọng hơn là nguồn lực được chuyển từ khâu quản lý sang lớp học; điều kiện làm việc của giáo viên; học sinh được tiếp cận giáo dục thuận lợi và chất lượng giáo dục được nâng lên.
Trong quá trình này, phương án của mỗi địa phương có thể khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng cần thống nhất: tổ chức lại mạng lưới để trường học hoạt động hiệu quả hơn, nguồn lực được sử dụng tốt hơn và người học được hưởng lợi nhiều hơn. Đó cũng là cách để yêu cầu tinh gọn bộ máy trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục, thay vì chỉ dừng lại ở việc giảm số lượng đầu mối hành chính.