Thông tư số 64/2026/TT-BGDĐT được ban hành nhằm tạo cơ sở pháp lý để hình thành, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên thực hiện chương trình giáo dục trung học nghề. Đồng thời, các quy định mới gắn chuẩn nghề nghiệp với hạng chức danh, vị trí việc làm, nhiệm vụ giảng dạy, chế độ làm việc và chính sách tiền lương, làm căn cứ để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tuyển dụng, sử dụng, đánh giá và phát triển đội ngũ.
Chuẩn nghề nghiệp theo đặc thù “vừa giáo dục, vừa học nghề”
Một trong những điểm mới quan trọng của Thông tư 64 là lần đầu tiên chức danh riêng cho giáo viên trung học nghề được xác định với 3 hạng chức danh gồm hạng I, hạng II và hạng III, đồng bộ với hệ thống chức danh nhà giáo trong giáo dục quốc dân. Việc xác định chức danh riêng giúp làm rõ vị trí việc làm, yêu cầu nghề nghiệp, nhiệm vụ và chế độ tiền lương, qua đó tạo cơ sở cho giáo viên phát triển nghề nghiệp theo từng hạng chức danh.
Chuẩn nghề nghiệp bao gồm các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, trình độ đào tạo, bồi dưỡng và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Thông tư yêu cầu trình độ đào tạo đối với hai nhóm chính là giáo viên dạy phần kiến thức văn hóa trung học phổ thông (THPT) và giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.
Đáng chú ý, giáo viên dạy phần chuyên môn nghề phải đáp ứng năng lực sư phạm kết hợp với năng lực thực hành nghề khi dạy thực hành, tích hợp. Quy định này phù hợp với đặc thù giáo dục nghề nghiệp, tiếp cận yêu cầu về “năng lực thực hành nghề”, đồng bộ với yêu cầu đối với giảng viên cao đẳng, giáo viên trung cấp dạy thực hành và giáo viên sơ cấp.
Thông tư quy định bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên ở một số ngành đào tạo của giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu dạy thực hành phần chuyên môn nghề trong chương trình giáo dục trung học nghề. Cách quy định này vừa nâng cao yêu cầu về chất lượng đội ngũ, vừa tạo sự mở và linh hoạt, không làm phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.
Thông tư đồng thời có tính kế thừa, công nhận đối với các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận về năng lực sư phạm và chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp; đồng thời quy định chuyển tiếp để nhà giáo giáo dục nghề nghiệp có thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các chương trình đào tạo trong cùng cơ sở.
Đặc biệt, cách tiếp cận này tạo điều kiện thu hút nhân lực có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều lĩnh vực tham gia giảng dạy giáo dục nghề nghiệp như nghệ nhân, kĩ sư, bác sĩ, thầy thuốc, vận động viên hoặc người đạt giải thưởng nghề nghiệp quốc gia, quốc tế…
Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh giáo dục nghề nghiệp cần đội ngũ không chỉ có năng lực sư phạm mà còn am hiểu sâu về công nghệ, kĩ thuật và thực tiễn nghề nghiệp. Việc mở rộng nguồn nhân lực tham gia giảng dạy cũng góp phần đưa kinh nghiệm thực tế, yêu cầu của thị trường lao động và những thay đổi về công nghệ vào quá trình đào tạo.
Về bổ nhiệm, xếp lương, Thông tư quy định giáo viên được bố trí vào vị trí việc làm nào thì được bổ nhiệm vào hạng chức danh tương ứng với vị trí đó và phải đáp ứng chuẩn nghề nghiệp của hạng được bổ nhiệm.
Khi thay đổi vị trí việc làm, Thông tư có cơ chế xác định chức danh tương đương, bảo đảm tương đương về trình độ đào tạo hoặc mức độ phức tạp công việc, theo hướng công khai, minh bạch, khách quan và bình đẳng.
Chế độ làm việc sát thực tế, tăng tính chủ động cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Một điểm đáng chú ý khác là Thông tư thiết kế chế độ làm việc riêng cho giáo viên trung học nghề theo hai nhóm nhiệm vụ: dạy phần kiến thức chương trình THPT và dạy phần chuyên môn nghề.
Giáo viên đáp ứng chuẩn nghề nghiệp có thể giảng dạy đồng thời cả phần kiến thức THPT và phần chuyên môn nghề trong cùng một năm học. Định mức giờ chuẩn được xác định theo phần có khối lượng giảng dạy thực tế nhiều hơn. Nếu khối lượng bằng nhau thì áp dụng định mức của giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.
Như vậy, giáo viên trung học nghề không bị áp một định mức giờ chuẩn cứng nhắc mà định mức được xác định trên cơ sở nhiệm vụ và nội dung giảng dạy thực tế. Cách thiết kế này phù hợp hơn với đặc thù chương trình trung học nghề, nơi giáo viên có thể đảm nhiệm đồng thời các nội dung giáo dục văn hóa và chuyên môn nghề.
Thời gian làm việc cũng được thiết kế phù hợp với từng nhóm giáo viên: 42 tuần đối với giáo viên dạy phần kiến thức THPT và 44 tuần đối với giáo viên dạy phần chuyên môn nghề.
Cùng với đó, các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, cập nhật kĩ năng thực hành và công nghệ mới được quy định trong chế độ làm việc. Tùy ngành, nghề giảng dạy và nhiệm vụ được phân công, giáo viên trung học nghề được linh hoạt thực hiện các nhiệm vụ này thông qua cơ chế giảm định mức hoặc quy đổi ra giờ chuẩn theo quy định.
Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp trong việc bố trí, phân công và giao nhiệm vụ cho giáo viên theo vị trí việc làm; đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ.
Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp đồng thời có trách nhiệm xác định sự phù hợp giữa năng lực thực hành nghề, trình độ chuyên môn của giáo viên với môn học, mô đun được phân công.
Nhìn tổng thể, Thông tư 64/2026/TT-BGDĐT không chỉ đặt ra một hệ thống chức danh và chuẩn nghề nghiệp riêng cho giáo viên trung học nghề mà còn hướng tới giải quyết đồng thời ba yêu cầu: chuẩn hóa đội ngũ, sử dụng nhân lực theo vị trí việc làm và bảo đảm chế độ làm việc phù hợp với đặc thù đào tạo.
Việc gắn hạng chức danh với vị trí việc làm, chuẩn nghề nghiệp và nhiệm vụ thực tế giúp hạn chế cách tiếp cận cứng nhắc trong sử dụng giáo viên. Trong khi đó, cơ chế công nhận các văn bằng, chứng chỉ đã có và mở rộng khả năng thu hút người có kinh nghiệm nghề nghiệp thực tiễn tạo cơ hội để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động xây dựng đội ngũ.
Đặc biệt, khi yêu cầu về năng lực thực hành nghề được đặt cùng với năng lực sư phạm, vai trò của giáo viên trung học nghề được xác định rõ hơn trong mô hình đào tạo kết hợp giữa kiến thức văn hóa và chuyên môn nghề. Đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo, tăng khả năng gắn chương trình với thực tiễn nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động.
Có thể thấy, quy định mới vừa tạo hành lang pháp lý thống nhất cho đội ngũ giáo viên trung học nghề, vừa trao thêm tính chủ động, linh hoạt cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong phân công, sử dụng và phát triển nhân lực. Quan trọng hơn, trách nhiệm của người đứng đầu được đặt rõ hơn trong việc bảo đảm sự phù hợp giữa năng lực giáo viên với môn học, mô đun và nhiệm vụ được giao, qua đó gắn quyền chủ động với trách nhiệm giải trình và hiệu quả đào tạo.