Thứ Sáu , 17/07/2026 , 10:34:50 GMT+7

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Từ yêu cầu chuyển đổi số đến bài toán quản lý ở các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên

Model?.data?.author?.Name
Huyền Đức

Biên tập viên

Thứ Sáu, 17/07/2026, 08:40:15 GMT+7

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội để đổi mới hoạt động dạy học và mở rộng cơ hội học tập cho mọi người dân. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tổ chức, quản lý và triển khai một cách đồng bộ trong từng cơ sở giáo dục. Tổng quan 32 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã góp phần phác họa bức tranh về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đồng thời gợi mở những hướng tiếp cận phù hợp đối với các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên ở Việt Nam.

Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu mới đối với quản lý hoạt động dạy học

Những năm gần đây, chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng quan trọng của giáo dục Việt Nam. Các chủ trương của Đảng và Nhà nước đều nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời khuyến khích các cơ sở giáo dục tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý và tổ chức dạy học. Trong bối cảnh đó, CNTT không còn đơn thuần là công cụ hỗ trợ mà đang dần trở thành một thành tố quan trọng của môi trường học tập hiện đại.

Đối với các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX), yêu cầu này càng trở nên rõ nét. Đây là loại hình cơ sở giáo dục có đặc thù về đối tượng người học, bao gồm nhiều độ tuổi, nhiều mục tiêu học tập khác nhau và phần lớn cần những hình thức học tập linh hoạt. Vì vậy, việc ứng dụng CNTT không chỉ nhằm hỗ trợ giảng dạy mà còn góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số của xã hội.

Từ bối cảnh đó, nhóm tác giả Lưu Văn Dân và Nguyễn Xuân Tạo (2026) thực hiện nghiên cứu tổng quan và hệ thống hóa các công trình liên quan đến quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học, qua đó nhận diện các xu hướng nghiên cứu, làm rõ khoảng trống còn tồn tại và đề xuất định hướng nghiên cứu cho lĩnh vực này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu, phân tích 32 công trình công bố trong giai đoạn 2004-2025, gồm 14 tài liệu trong nước và 18 tài liệu quốc tế.

Tạp chí giáo dục
Giáo viên tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ số tại lớp học. Việc ứng dụng CNTT không chỉ góp phần đổi mới phương pháp dạy học mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và tăng cường tính tương tác của người học (Nguồn: gdtxlamdong.edu)

Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với đổi mới phương pháp dạy học

Theo các công trình được phân tích, việc ứng dụng CNTT giúp mở rộng môi trường học tập, tăng cường sự tương tác giữa giáo viên và người học, đa dạng hóa học liệu, đồng thời tạo điều kiện để người học chủ động tiếp cận tri thức thông qua nhiều hình thức khác nhau. Các mô hình như dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp (Blended Learning), lớp học đảo ngược hay dạy học theo dự án đều cho thấy tiềm năng nâng cao chất lượng dạy học khi được triển khai phù hợp. Đáng chú ý, nhiều nghiên cứu quốc tế không xem công nghệ là mục tiêu cuối cùng mà nhấn mạnh vai trò của công nghệ như một phương tiện hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Khi giáo viên biết khai thác hình ảnh, video, học liệu số và các công cụ tương tác, người học có thêm cơ hội tham gia tích cực vào quá trình học tập thay vì chỉ tiếp nhận kiến thức một chiều.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả ứng dụng CNTT không phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân công nghệ. Những yếu tố như hạ tầng kỹ thuật, học liệu số, năng lực số của giáo viên và cơ chế hỗ trợ từ cơ sở giáo dục đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả triển khai. Điều này đồng nghĩa với việc cùng một nền tảng công nghệ nhưng hiệu quả có thể rất khác nhau giữa các cơ sở giáo dục nếu thiếu sự đầu tư đồng bộ về quản lý, tổ chức và phát triển đội ngũ. Đây cũng là lý do nhiều nghiên cứu gần đây chuyển trọng tâm từ câu hỏi "ứng dụng công nghệ gì" sang "quản lý việc ứng dụng công nghệ như thế nào".

Quản lý trở thành yếu tố quyết định trong triển khai công nghệ số

Nếu các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào công nghệ hoặc phương pháp giảng dạy thì những công trình gần đây bắt đầu nhấn mạnh vai trò của quản lý trong toàn bộ quá trình ứng dụng CNTT. Theo kết quả tổng quan, quản lý không chỉ dừng ở việc đầu tư thiết bị mà bao gồm nhiều nội dung liên quan như xây dựng chiến lược phát triển giáo dục số, tổ chức bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên, quản lý hệ thống học liệu số, vận hành nền tảng học tập trực tuyến và bảo đảm hạ tầng công nghệ hoạt động ổn định. Đây đều là những yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và quyết định mức độ thành công của chuyển đổi số trong nhà trường.

Các nghiên cứu quốc tế cũng cho thấy việc tích hợp CNTT cần được đặt trong mối quan hệ giữa công nghệ, phương pháp sư phạm và nội dung dạy học. Điều đó đòi hỏi người quản lý không chỉ quan tâm đến đầu tư cơ sở vật chất mà còn phải tạo dựng môi trường để giáo viên có thể phát triển năng lực số, chia sẻ kinh nghiệm và từng bước hình thành văn hóa dạy học trong môi trường số.

Ở Việt Nam, nhiều chính sách đã thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục. Tuy nhiên, đối với các trung tâm GDNN-GDTX, thực tiễn vẫn còn không ít khó khăn như hạ tầng công nghệ chưa đồng đều, năng lực CNTT của đội ngũ giáo viên còn chênh lệch, học liệu số chưa phong phú và đặc điểm người học rất đa dạng. Những yếu tố này khiến việc tổ chức, quản lý hoạt động dạy học cần có cách tiếp cận linh hoạt hơn so với nhiều loại hình cơ sở giáo dục khác.

Tạp chí giáo dục
Hiệu quả ứng dụng CNTT phụ thuộc không chỉ vào thiết bị hay phần mềm mà còn vào công tác quản lý, từ xây dựng chiến lược, phát triển năng lực số của đội ngũ đến tổ chức và giám sát quá trình triển khai trong cơ sở giáo dục (Nguồn: xaydungchinhsach.chinhphu.vn)

Khoảng trống nghiên cứu cho thấy cần thay đổi cách tiếp cận trong quản lý

Bên cạnh việc hệ thống hóa những kết quả đã đạt được, nghiên cứu dành sự quan tâm đáng kể đến việc nhận diện các khoảng trống trong lĩnh vực quản lý ứng dụng CNTT. Đây cũng là một trong những giá trị nổi bật của công trình, bởi việc xác định những nội dung còn thiếu sẽ góp phần định hướng các nghiên cứu và hoạt động quản lý trong thời gian tới.

Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù số lượng nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong giáo dục ngày càng tăng, song phần lớn vẫn tập trung ở bậc phổ thông và đại học. Trong khi đó, các trung tâm GDNN-GDTX lại chưa nhận được sự quan tâm tương xứng từ góc độ nghiên cứu quản lý.

Một khoảng trống khác là nhiều nghiên cứu chủ yếu đánh giá hiệu quả của các công cụ công nghệ hoặc mô hình dạy học, nhưng chưa phân tích đầy đủ cách thức tổ chức, điều hành, giám sát và cải tiến quá trình ứng dụng CNTT trong từng cơ sở giáo dục. Điều này khiến bức tranh về quản lý chuyển đổi số còn thiếu tính hệ thống, đặc biệt đối với những cơ sở có đặc thù về đối tượng người học và hình thức đào tạo như các trung tâm GDNN-GDTX.

Từ những khoảng trống này, nhóm tác giả cho rằng cần chuyển trọng tâm nghiên cứu từ việc quan tâm "có ứng dụng công nghệ hay không" sang "quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ như thế nào để mang lại hiệu quả". Khi đó, thành công không còn được đo bằng số lượng thiết bị hay phần mềm được đưa vào sử dụng mà bằng mức độ chúng góp phần nâng cao chất lượng dạy học và đáp ứng nhu cầu học tập của người học.

Hướng tới một hệ sinh thái quản lý số thay vì những giải pháp đơn lẻ

Qua phân tích 32 công trình trong nước và quốc tế, nhóm tác giả nhận thấy các nghiên cứu quốc tế ngày càng nhấn mạnh việc xây dựng hệ sinh thái giáo dục số. Trong cách tiếp cận này, công nghệ không tồn tại độc lập mà gắn kết với năng lực của đội ngũ giáo viên, vai trò lãnh đạo của nhà trường, hệ thống học liệu số, hạ tầng công nghệ và các chính sách hỗ trợ. Tất cả cùng vận hành như những mắt xích của một hệ thống thống nhất.

Trong khi đó, ở nhiều nghiên cứu trong nước, đặc biệt tại lĩnh vực GDNN-GDTX, việc ứng dụng CNTT vẫn chủ yếu được xem xét ở từng khía cạnh riêng lẻ như sử dụng phần mềm dạy học, tổ chức lớp học trực tuyến hoặc nâng cao kỹ năng CNTT cho giáo viên. Những nội dung như quản trị dữ liệu, quản lý nền tảng học tập số, phối hợp giữa các bộ phận trong cơ sở giáo dục hay đánh giá hiệu quả quản lý chuyển đổi số chưa được nghiên cứu nhiều.

Đây là thời điểm cần mở rộng cách tiếp cận từ quản lý ứng dụng CNTT sang quản lý một hệ sinh thái số tích hợp. Trong mô hình này, hạ tầng công nghệ, đội ngũ giáo viên, cơ chế quản lý, chính sách hỗ trợ và kết quả đào tạo được xem là các thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi một mắt xích chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả chung của quá trình chuyển đổi số cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Những hướng nghiên cứu và quản lý trong giai đoạn mới

Trước hết, cần xây dựng và kiểm định các mô hình quản lý ứng dụng CNTT dành riêng cho các trung tâm GDNN-GDTX theo hướng tiếp cận hệ thống. Mô hình này cần phản ánh đầy đủ mối quan hệ giữa các điều kiện đầu vào như hạ tầng công nghệ, năng lực đội ngũ, cơ chế chính sách; quá trình tổ chức thực hiện; và kết quả đầu ra là chất lượng dạy học cũng như sự phát triển năng lực của người học.

Các nghiên cứu trong tương lai cần quan tâm nhiều hơn đến tác động của quản lý chuyển đổi số đối với chất lượng đào tạo thay vì chỉ dừng ở việc mô tả mức độ ứng dụng CNTT. Việc triển khai các nghiên cứu trường hợp hoặc nghiên cứu thực nghiệm tại các trung tâm GDNN-GDTX cụ thể cũng sẽ góp phần cung cấp thêm bằng chứng thực tiễn, từ đó hoàn thiện các giải pháp quản lý phù hợp với từng bối cảnh.

Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học. Đây có thể trở thành cơ sở để các cơ sở giáo dục theo dõi quá trình triển khai, nhận diện những nội dung cần cải thiện và từng bước nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong hoạt động đào tạo.

Gợi mở từ thực tiễn giáo dục Việt Nam

Chuyển đổi số giáo dục đã được triển khai mạnh mẽ thông qua nhiều chủ trương, chương trình và chính sách của Chính phủ cũng như ngành giáo dục. Nhiều cơ sở giáo dục đã từng bước đầu tư hạ tầng công nghệ, phát triển học liệu số, triển khai các nền tảng quản lý học tập và tăng cường bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy điều kiện giữa các địa phương và các loại hình cơ sở giáo dục vẫn còn khác biệt. Đối với các trung tâm GDNN-GDTX, đặc thù người học đa dạng về độ tuổi, nghề nghiệp và nhu cầu học tập đòi hỏi việc ứng dụng CNTT phải linh hoạt hơn, đồng thời cần một cơ chế quản lý phù hợp để bảo đảm các nguồn lực công nghệ được khai thác hiệu quả.

Tạp chí giáo dục
Đối tượng học viên tại các trung tâm GDNN-GDTX đa dạng về độ tuổi, nghề nghiệp và nhu cầu học tập. Điều này đặt ra yêu cầu xây dựng mô hình quản lý ứng dụng CNTT linh hoạt, phù hợp với đặc thù của loại hình cơ sở giáo dục này (Ảnh: Tào Đạt - Như Tâm, Báo Dân tộc và Phát triển)

Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần hệ thống hóa những tri thức đã có mà còn cung cấp cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục khi xây dựng chiến lược chuyển đổi số tại các trung tâm GDNN-GDTX. Quan trọng hơn, nghiên cứu gợi mở rằng để chuyển đổi số mang lại hiệu quả bền vững, trọng tâm không chỉ nằm ở việc đầu tư công nghệ mà còn ở năng lực quản lý, sự phối hợp đồng bộ giữa các nguồn lực và khả năng tổ chức hoạt động dạy học phù hợp với đặc điểm của từng cơ sở giáo dục. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Nguồn

Lưu Văn Dân, Nguyễn Xuân Tạo (2026). Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên ở Việt Nam: Tổng quan nghiên cứu. Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Đồng Tháp, 15(số đặc biệt 01S: Chuyên san Khoa học xã hội và Nhân văn), 187-198. https://doi.org/10.52714/dthu.15.01S.2026.1778

PV/BTV

Nguyễn Huyền Đức

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận