Thứ Sáu , 16/10/2026 , 13:24:20 GMT+7

Đại học - Doanh nghiệp cần đi sâu vào chuỗi đào tạo nhân lực

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 08/10/2026, 13:44:30 GMT+7

Thị trường lao động đang thay đổi nhanh dưới tác động của công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nhân lực. Trong bối cảnh đó, hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp không thể chỉ dừng ở thực tập, tuyển dụng hay những bản ghi nhớ, mà cần đi sâu vào quá trình đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực.

Khi yêu cầu về nguồn nhân lực thay đổi, mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp cũng cần được nhìn nhận ở nhiều cấp độ. Ngoài việc tiếp nhận sinh viên thực tập và tuyển dụng sau tốt nghiệp, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực. Hiện nay, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng mạng lưới doanh nghiệp đối tác, ký kết các chương trình hợp tác, tổ chức tham quan thực tế, thực tập, tuyển dụng và phối hợp nghiên cứu. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là những hoạt động này đã thực sự tạo thành một chuỗi liên kết đào tạo nhân lực hay chưa.

Từ thực tế được phản ánh trong thời gian qua, một khoảng cách vẫn tồn tại: doanh nghiệp cần nhân lực có kỹ năng phù hợp nhưng nhà trường không phải lúc nào cũng nắm đầy đủ những thay đổi trong công nghệ và yêu cầu công việc; trong khi đó, doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng nhưng chưa phải nơi nào cũng sẵn sàng đầu tư nguồn lực để tham gia vào quá trình đào tạo. Hợp tác nhà trường - doanh nghiệp có thể được triển khai ở nhiều cấp độ, từ tham quan, tiếp nhận sinh viên thực tập đến cùng xây dựng mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo, đặt hàng đào tạo; trao đổi chuyên môn; nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Ở mức độ cao hơn, doanh nghiệp có thể tham gia vào quản trị và xây dựng chiến lược phát triển nhà trường. Đây là hướng cần được thúc đẩy mạnh hơn khi giáo dục đại học bước vào giai đoạn coi chất lượng và đóng góp thực chất là những thước đo quan trọng.

Tạp chí giáo dục
Hiện nay, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng mạng lưới doanh nghiệp đối tác, ký kết các chương trình hợp tác, tổ chức tham quan thực tế, thực tập, tuyển dụng và phối hợp nghiên cứu (Nguồn: Trường Đại học FPT)

Doanh nghiệp cần tham gia từ đầu quá trình đào tạo

Một trong những hạn chế của liên kết đại học - doanh nghiệp là sự tham gia của doanh nghiệp đôi khi vẫn được đặt ở cuối chuỗi đào tạo. Nhà trường đào tạo, sinh viên hoàn thành chương trình rồi doanh nghiệp tuyển dụng. Nếu có thêm hoạt động thực tập, doanh nghiệp trở thành nơi sinh viên trải nghiệm công việc trong một khoảng thời gian nhất định. Mô hình này tạo ra sự kết nối nhất định nhưng chưa đủ để giải quyết khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động. Nếu doanh nghiệp chỉ tham gia ở khâu cuối, nhà trường sẽ khó có được thông tin đầy đủ và kịp thời về sự thay đổi của vị trí việc làm, công nghệ, quy trình sản xuất cũng như những kỹ năng người lao động cần có. Trong khi đó, những thay đổi của thị trường lao động đang diễn ra nhanh. Một chương trình đào tạo có thể phù hợp tại thời điểm xây dựng nhưng sau vài năm đã xuất hiện những công nghệ, phương thức làm việc và yêu cầu năng lực mới.

Khoảng cách này càng rõ ở những ngành chịu tác động mạnh của chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và các công nghệ mới. Vì vậy, doanh nghiệp cần được tham gia từ sớm, trước khi sinh viên bước vào thị trường lao động. Sự tham gia đó có thể bắt đầu từ việc cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực, góp ý chuẩn đầu ra, tham gia xây dựng và cập nhật chương trình, tổ chức các học phần thực hành, cử chuyên gia tham gia giảng dạy hoặc đánh giá năng lực người học. Nhà trường vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm nền tảng khoa học, tính hệ thống và giá trị học thuật của chương trình. Nhưng doanh nghiệp có thể bổ sung góc nhìn thực tiễn để chương trình đào tạo không tách rời những yêu cầu của nghề nghiệp.

Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân nhấn mạnh yêu cầu doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá năng lực người học. Với những lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, vật liệu mới, nhân lực không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có khả năng tổ chức, vận hành công nghệ. Do đó, chương trình đào tạo cần được thiết kế theo hướng giúp người học làm chủ những kỹ năng và năng lực công nghệ cụ thể sau từng giai đoạn; doanh nghiệp có thể tham gia chia sẻ công nghệ, bồi dưỡng giảng viên, tổ chức thực tập và đánh giá kỹ năng tốt nghiệp.

Thực tập tại doanh nghiệp cũng cần được thay đổi về chất. Hoạt động này cần gắn với mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra của chương trình; sinh viên được giao nhiệm vụ cụ thể, có người hướng dẫn, được đánh giá năng lực và nhận phản hồi sau quá trình thực tập. Khi đó, doanh nghiệp không đơn thuần là nơi sinh viên đến trải nghiệm mà trở thành một bộ phận bổ trợ cho môi trường đào tạo.

Đây cũng là hướng đang được thể chế hóa. Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học yêu cầu chuẩn đầu ra phải thể hiện những năng lực cần thiết để người học học tập, làm việc và phát triển nghề nghiệp. Với trình độ đại học, chuẩn đầu ra có yêu cầu về năng lực số, nội dung về AI, ngoại ngữ, khả năng thích ứng và học tập suốt đời; các yêu cầu này phải được cụ thể hóa thành những tiêu chí có thể quan sát, đánh giá và đo lường. Đáng chú ý, trong quá trình xây dựng chuẩn chương trình, hội đồng thẩm định có đại diện doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các chuyên gia liên quan.

Như vậy, sự tham gia của doanh nghiệp vào đào tạo ngày càng cần được đặt ở vị trí đầu vào và xuyên suốt quá trình, thay vì chỉ xuất hiện ở khâu tuyển dụng.

Từ đặt hàng đào tạo đến cùng giải bài toán nhân lực

Một bước phát triển cao hơn của hợp tác là chuyển từ trao đổi cơ hội sang cùng xác định và giải quyết bài toán nhân lực.

Ông Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho rằng cần xác định rõ doanh nghiệp đang thiếu nhân lực ở vị trí nào, yêu cầu kỹ năng gì để các cơ sở đào tạo có căn cứ điều chỉnh chương trình. Nhu cầu nhân lực trong những lĩnh vực mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đang đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa cơ sở đào tạo và thị trường lao động.

Theo đó, doanh nghiệp có thể cung cấp thông tin về vị trí việc làm, số lượng nhân lực cần tuyển, công nghệ đang sử dụng và những năng lực người lao động cần có. Trên cơ sở đó, trường đại học điều chỉnh chương trình, học phần thực hành, phương thức đánh giá và quy mô đào tạo. Ở chiều ngược lại, dữ liệu về việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp cần quay trở lại nhà trường để trở thành căn cứ điều chỉnh chương trình và quy mô tuyển sinh.

Ở cấp độ sâu hơn, doanh nghiệp có thể tham gia đặt hàng đào tạo. Khi đó, hợp tác không chỉ là đưa sinh viên đến doanh nghiệp thực tập mà xác định ngay từ đầu doanh nghiệp cần bao nhiêu nhân lực, ở những vị trí nào và với yêu cầu năng lực ra sao. Nhà trường xây dựng lộ trình đào tạo tương ứng, còn doanh nghiệp tham gia vào quá trình thực hành, hướng dẫn và đánh giá.

Nghị định 334/2026/NĐ-CP của Chính phủ về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ chế tài chính được ban hành ngày 20/8/2026, trong bối cảnh các cơ sở đào tạo được đặt trong yêu cầu tăng cường tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Tự chủ cũng cần được nhìn từ khả năng chủ động tổ chức đào tạo, huy động nguồn lực và thiết lập các quan hệ hợp tác phù hợp với sứ mạng, thế mạnh và nhu cầu phát triển. Tuy nhiên, đặt hàng đào tạo chỉ thực sự có ý nghĩa nếu doanh nghiệp và nhà trường cùng đầu tư nguồn lực. Doanh nghiệp cần dành nhân sự, công nghệ, dữ liệu và môi trường thực hành; nhà trường cần có đội ngũ giảng viên, chương trình và cơ chế tổ chức; hai bên cần thống nhất rõ trách nhiệm, tiêu chí đánh giá và kết quả đầu ra.

Theo số liệu từ Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin, các trường đại học đóng góp 83,6% số công bố quốc tế của cả nước năm 2025, nhưng chỉ khoảng 9% kết quả nghiên cứu được khai thác thương mại. Khoảng cách này cho thấy năng lực tạo ra tri thức của đại học đã được thể hiện, nhưng việc chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế vẫn còn nhiều dư địa.

Các chuyên gia cũng cho rằng cần thúc đẩy “3 chân kiềng” giữa doanh nghiệp - nhà trường - xã hội trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao. Theo hướng này, doanh nghiệp có thể đưa vào trường những vấn đề phát sinh trong sản xuất, kinh doanh và quản trị; nhà khoa học cung cấp phương pháp, tri thức và công nghệ; sinh viên có thể tham gia vào các dự án nghiên cứu, phát triển sản phẩm. Khi đó, một bài toán của doanh nghiệp có thể trở thành đề tài nghiên cứu, một đề tài nghiên cứu có thể trở thành sản phẩm ứng dụng và quá trình ấy đồng thời tạo ra môi trường đào tạo thực tế cho người học.

Nghị định 125/2026/NĐ-CP về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học đã tạo hành lang cho các trường tổ chức hoạt động nghiên cứu gắn với đào tạo nhân lực trình độ cao, phát triển đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nghị định cũng quy định các nội dung chi của quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong trường, trong đó có xác định giá trị, thẩm định công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và phục vụ thương mại hóa.

Như vậy, hợp tác đại học - doanh nghiệp cần trả lời được những câu hỏi cụ thể: doanh nghiệp đã tham gia vào chương trình đào tạo ở mức nào; sinh viên được tiếp cận công nghệ và bài toán thực tế ra sao; bao nhiêu nhu cầu nhân lực được đặt hàng; nghiên cứu nào được doanh nghiệp đặt vấn đề, đầu tư hoặc tiếp nhận; công nghệ nào được chuyển giao và sản phẩm nào được hình thành.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận