Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đăng dự thảo Thông tư quy định Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên trên Cổng thông tin điện tử Bộ GDĐT để lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thông tư được xây dựng nhằm triển khai các quy định bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp theo Luật Nhà giáo; tạo cơ sở để hình thành cho người học những năng lực cơ bản, thiết yếu đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cao đẳng, giảng viên đại học.
Quy định Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên cũng hướng tới đáp ứng những yêu cầu mới của hoạt động nghề nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo, bảo đảm và cải tiến chất lượng giáo dục.
Giảm lý thuyết, tăng thực hành, linh hoạt theo nhu cầu
Dự thảo Chương trình được thiết kế lại theo hướng tập trung vào những năng lực cơ bản, thiết yếu của giảng viên; giảm những nội dung lý thuyết, trùng lặp với các chương trình bồi dưỡng khác; tăng thời lượng thực hành, thảo luận, bài tập, xử lý tình huống và vận dụng vào hoạt động nghề nghiệp.
Việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện theo từng mô đun và căn cứ vào chuẩn đầu ra, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng thông qua nhiệm vụ, sản phẩm, thực hành và các minh chứng phù hợp, thay vì đặt trọng tâm vào ghi nhớ, tái hiện kiến thức.
Cách thiết kế này hướng hoạt động bồi dưỡng gần hơn với những yêu cầu mà giảng viên phải giải quyết trong thực tế nghề nghiệp. Khi kết quả được đánh giá thông qua nhiệm vụ, sản phẩm và khả năng vận dụng, thời gian bồi dưỡng có điều kiện chuyển từ việc tiếp nhận kiến thức sang hình thành và củng cố năng lực. Đây cũng là cơ sở để nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng, đồng thời giảm thời gian và chi phí không cần thiết đối với người học và cơ sở tổ chức bồi dưỡng.
Theo dự thảo, Chương trình được thiết kế theo hướng liên thông, linh hoạt và cho phép tích lũy kết quả theo mô đun.
Chương trình gồm khối năng lực chung và năng lực đặc thù, trong đó 4 mô đun chung áp dụng cho cả giảng viên cao đẳng và giảng viên đại học; 1 mô đun đặc thù tương ứng với từng nhóm giảng viên. Cấu trúc này giúp liên thông và kế thừa kết quả giữa hai chương trình.
Người học có thể đăng ký học toàn bộ Chương trình hoặc từng mô đun. Kết quả hoàn thành toàn bộ hoặc được công nhận hoàn thành từng mô đun được tích lũy để xác định việc hoàn thành Chương trình và cấp chứng chỉ.
Như vậy, người học không nhất thiết phải tham gia học bồi dưỡng toàn bộ chương trình mà có thể tích lũy từng mô đun phù hợp với nhu cầu và kết quả đã có.
Cách tiếp cận này tạo thêm sự linh hoạt cho người học, nhất là những người đã có kinh nghiệm hoặc từng hoàn thành một số nội dung tương ứng. Tuy nhiên, để việc tích lũy thực sự có ý nghĩa, chuẩn đầu ra của từng mô đun cần đủ rõ để xác định chính xác người học đã đạt đến mức nào và còn thiếu năng lực nào.
Dự thảo cũng phân định rõ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp với bồi dưỡng năng lực sư phạm đối với giảng viên cao đẳng.
Theo đó, đối với giảng viên cao đẳng, do đã có quy định về chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm riêng nên Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp không lặp lại các nội dung hình thành năng lực sư phạm mà tập trung vào các năng lực nghề nghiệp theo chuẩn. Trong đó, mô đun đặc thù chú trọng tổ chức đào tạo gắn với doanh nghiệp, thị trường lao động và thực tiễn nghề nghiệp.
Đối với giảng viên đại học, do không có quy định về chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm riêng tương ứng, Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp bố trí mô đun đặc thù về thiết kế, tổ chức dạy học và đánh giá người học, nhằm hình thành năng lực sư phạm đại học cơ bản.
Cách thiết kế này nhằm hạn chế trùng lặp nội dung bồi dưỡng, đồng thời bảo đảm mỗi nhóm giảng viên được hình thành những năng lực cần thiết phù hợp với đặc thù hoạt động nghề nghiệp.
Việc phân định rõ hai nhóm nội dung cũng giúp nguồn lực bồi dưỡng được sử dụng đúng trọng tâm. Thay vì cùng một chương trình áp dụng cho các nhóm giảng viên có yêu cầu nghề nghiệp khác nhau, nội dung được điều chỉnh theo đặc thù của từng đối tượng, qua đó tăng khả năng vận dụng sau bồi dưỡng.
Công nhận năng lực đã có, giảm học lại, tăng trách nhiệm bảo đảm chất lượng
Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo là một mô đun có thể được hoàn thành thông qua 3 phương thức: học tập và đánh giá; công nhận kết quả học tập; hoặc đánh giá, công nhận năng lực đã có. Dù theo phương thức nào, kết quả đều được xác định trên cơ sở cùng chuẩn đầu ra của mô đun.
Đối với công nhận kết quả học tập, kết quả của chương trình, môn học, mô đun hoặc học phần mà người học đã hoàn thành sẽ được đối sánh với chuẩn đầu ra và nội dung cốt lõi của mô đun tương ứng. Khi được công nhận, người học không phải học và đánh giá lại mô đun đó.
Đối với người đã hình thành năng lực thông qua hoạt động nghề nghiệp, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, tự học hoặc tự bồi dưỡng nhưng chưa đủ căn cứ để công nhận kết quả học tập, dự thảo cho phép đăng ký đánh giá, công nhận năng lực đã có.
Việc công nhận hoàn thành mô đun chỉ được thực hiện khi xác định người đăng ký đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra của mô đun. Cơ chế này hướng tới ghi nhận đúng những gì người học đã có, hạn chế việc học lại những nội dung đã đáp ứng. Qua đó, thời gian, chi phí và nguồn lực dành cho bồi dưỡng có thể được sử dụng hiệu quả hơn mà vẫn giữ một chuẩn chung về chất lượng đầu ra.
Điểm quan trọng là sự linh hoạt không đồng nghĩa với nới lỏng yêu cầu. Dù người học hoàn thành mô đun thông qua học tập, được công nhận kết quả đã có hay được đánh giá năng lực thực tế, chuẩn đầu ra vẫn là căn cứ thống nhất. Điều này giúp bảo đảm rằng việc miễn học không trở thành miễn yêu cầu về năng lực.
Dự thảo Thông tư cho phép cơ sở giáo dục đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bảo đảm chất lượng theo quy định được chủ động tổ chức bồi dưỡng, công nhận kết quả học tập; đánh giá, công nhận năng lực đã có và cấp chứng chỉ trong phạm vi theo quy định.
Cùng với quyền chủ động, cơ sở giáo dục phải đáp ứng các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, báo cáo viên, tài liệu, học liệu, cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin và các điều kiện bảo đảm chất lượng; chịu trách nhiệm về chất lượng và tính hợp pháp của kết quả thực hiện.
Việc trao quyền cho cơ sở giáo dục đi cùng yêu cầu chịu trách nhiệm là điểm cần thiết để mô hình bồi dưỡng linh hoạt không dẫn đến chênh lệch về chất lượng. Khi các cơ sở được chủ động công nhận kết quả và năng lực đã có, tiêu chí, quy trình đánh giá và minh chứng cần được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm giá trị của chứng chỉ và sự tin cậy của người học.
Nhìn tổng thể, dự thảo Chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đang chuyển trọng tâm từ học đủ nội dung sang đạt đủ năng lực. Giảm lý thuyết, tăng thực hành; học theo mô đun; công nhận kết quả học tập và năng lực đã có là những điểm có thể giúp hoạt động bồi dưỡng sát hơn với nhu cầu nghề nghiệp của giảng viên.
Tuy nhiên, hiệu quả của cách tiếp cận này phụ thuộc đáng kể vào chất lượng chuẩn đầu ra, phương thức đánh giá và năng lực tổ chức của cơ sở bồi dưỡng. Khi những điều kiện này được bảo đảm, việc giảm thời lượng học lại không chỉ giúp tiết kiệm nguồn lực mà còn tạo thêm không gian để giảng viên tập trung vào những năng lực thực sự cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp.