Thứ Ba , 03/11/2026 , 02:18:54 GMT+7

New Zealand siết quy tắc miễn học và chuẩn hóa mã chuyên cần từ năm 2027

Model?.data?.author?.Name
Trịnh Thu

ttthu.vje@moet.edu.vn

Thứ Sáu, 30/10/2026, 22:16:41 GMT+7

Quy tắc mới giới hạn lý do miễn học, tăng yêu cầu bằng chứng với vắng học dài ngày và chuẩn hóa mã dữ liệu; bài học cho Việt Nam là hỗ trợ sớm dựa trên dữ liệu.

Bộ Giáo dục New Zealand ngày 19/10/2026 công bố quy tắc miễn tham dự học và bộ mã chuyên cần sửa đổi, áp dụng từ học kỳ I năm 2027. Năm nhóm lý do được chấp nhận gồm y tế, tang chế, sự kiện văn hóa - tôn giáo, sự kiện cấp tỉnh/quốc gia/quốc tế được công nhận và hoàn cảnh đặc biệt. Hiệu trưởng vẫn quyết định từng trường hợp, nhưng thời gian vắng càng dài thì yêu cầu bằng chứng càng cao; từ 11 ngày học liên tiếp phải có bằng chứng đáng tin cậy trước khi phê duyệt. Bốn mã miễn mới được bổ sung để trường ghi nhận nhất quán hơn. Bộ nhấn mạnh đây là cách làm “rõ ràng và nhất quán hơn” trong ghi nhận, quản lý và báo cáo vắng học.

Quy định mới là một mắt xích trong Kế hoạch hành động chuyên cần quốc gia, không phải biện pháp đơn lẻ. Từ học kỳ I năm 2025, trường phải gửi dữ liệu chuyên cần hằng ngày; từ học kỳ I năm 2026, mọi trường công và trường tích hợp phải công bố kế hoạch quản lý chuyên cần, ghi nhận phản ứng khi học sinh chạm các ngưỡng 5, 10 và 15 ngày vắng trong một học kỳ. Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2030 có 80% học sinh dự học ít nhất 90% thời gian. Dữ liệu chính thức cho thấy học kỳ I năm 2026 có 68,8% học sinh đạt mức chuyên cần thường xuyên, tăng 2,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2025. Kết quả này là tín hiệu cải thiện, chưa phải bằng chứng nhân quả rằng từng biện pháp đã tạo ra mức tăng.

Tạp chí giáo dục
Bộ Giáo dục New Zealand ngày 19/10/2026 công bố quy tắc miễn tham dự học và bộ mã chuyên cần sửa đổi, áp dụng từ học kỳ I năm 2027. (Ảnh minh họa, nguồn internet)

Điểm đáng chú ý là New Zealand kết hợp kỷ luật dữ liệu với hỗ trợ theo tầng. Khung STAR yêu cầu hành động sớm, phối hợp gia đình và cơ quan ngoài trường; tuyên bố định hướng là “không học sinh nào tiếp tục vắng học mà thiếu hỗ trợ kịp thời” (Bộ Giáo dục New Zealand – tác giả dịch). Ở Vương quốc Anh cũng vận hành hướng dẫn bắt buộc theo nguyên tắc “support first”: khi vắng từ 10% trở lên, trường và chính quyền địa phương phải cùng xác định rào cản và bố trí hỗ trợ; xử lý pháp lý chỉ đến sau khi các con đường hỗ trợ không hiệu quả. Tại New South Wales, Australia, quy trình năm 2026 yêu cầu nhóm chuyên cần, theo dõi sát mẫu vắng học, làm việc với gia đình, bảo đảm an toàn văn hóa và huy động dịch vụ hỗ trợ. Ba hệ thống cùng coi dữ liệu là tín hiệu kích hoạt hỗ trợ, không chỉ là căn cứ trừng phạt.

Bằng chứng nghiên cứu củng cố cách tiếp cận đa nguyên nhân. Tổng quan gộp 75 nghiên cứu của Gubbels, van der Put và Assink nhận diện hàng trăm yếu tố liên quan đến vắng học và bỏ học ở cấp cá nhân, gia đình, bạn bè và nhà trường; tác giả lưu ý thiết kế quan sát không cho phép kết luận nhân quả. Vì vậy, một mã vắng học chính xác có thể giúp phân luồng can thiệp, nhưng không tự giải quyết sức khỏe tâm thần, nghèo đói, bạo lực học đường, khó khăn giao thông hay mối quan hệ giáo viên và học sinh. Nguy cơ chính của chính sách New Zealand là trường có thể ưu tiên “làm đẹp” tỷ lệ hoặc đòi bằng chứng vượt khả năng của gia đình yếu thế; cần kiểm tra chênh lệch theo dân tộc, khuyết tật, vùng xa và hoàn cảnh kinh tế.

Ở Việt Nam, Nghị định số 353/2026/NĐ-CP về giáo dục bắt buộc và phổ cập có hiệu lực từ 1/11/2026; Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt mục tiêu hoàn thành giáo dục bắt buộc hết THCS, giảm bất bình đẳng và không để người học bỏ học vì điều kiện tài chính. Việt Nam cũng đang hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành và kết nối dữ liệu dân cư. Có thể tiếp thu bốn cấu phần: chuẩn hóa mã chuyên cần toàn quốc; báo cáo điện tử đủ thường xuyên; ngưỡng cảnh báo gắn với phản ứng hỗ trợ bắt buộc; và phân tích chênh lệch theo nhóm học sinh. Việt Nam nên ưu tiên một quy trình “xác minh - hỗ trợ - theo dõi” ở cấp trường/xã, trong đó trạm y tế, công tác xã hội, chính quyền và gia đình cùng xử lý nguyên nhân. Chỉ số thành công không chỉ là tỷ lệ có mặt, mà còn là quay lại học bền vững, tiến bộ học tập và giảm tái vắng học.

Tài liệu tham khảo

Department for Education. (2026). Working together to improve school attendance. https://www.gov.uk/government/publications/working-together-to-improve-school-attendance

New Zealand Ministry of Education. (2026a, October 19). New attendance exemption rules and changes to attendance codes. https://www.education.govt.nz/news/new-attendance-exemption-rules-and-changes-attendance-codes

New Zealand Ministry of Education. (2026b). Attendance action plan. https://www.education.govt.nz/our-work/strategies-policies-and-programmes/attendance-and-achievement/attendance-action-plan

New Zealand Ministry of Education. (2026c). Daily attendance reporting. https://www.education.govt.nz/education-professionals/schools-year-0-13/attendance/daily-attendance-reporting

New Zealand Ministry of Education. (2026d). Managing attendance: Attendance management plans and STAR. https://www.education.govt.nz/education-professionals/schools-year-0-13/attendance/attendance-management-plans

NSW Department of Education. (2026). Student attendance in NSW public schools procedures. https://education.nsw.gov.au/policy-library/policies/pd-2005-0259-02

Gubbels, J., van der Put, C. E., & Assink, M. (2019). Risk factors for school absenteeism and dropout: A meta-analytic review. Journal of Youth and Adolescence, 48, 1637–1667. https://doi.org/10.1007/s10964-019-01072-5

Chính phủ. (2026). Nghị định số 353/2026/NĐ-CP về phổ cập giáo dục mầm non, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=219470&pageid=27160

Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-119250828110759964.htm

PV/BTV

Trịnh Thị Thu

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận