Hình thành năng lực khởi nghiệp trong học sinh, sinh viên
Khởi nghiệp trong nhà trường trong những năm qua đã có bước phát triển đáng kể, đặc biệt từ khi các chương trình hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp được triển khai trên phạm vi cả nước. Nhiều cơ sở giáo dục đã tổ chức cuộc thi ý tưởng, ngày hội khởi nghiệp, thành lập câu lạc bộ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo và kết nối người học với doanh nghiệp, nhà đầu tư. Những hoạt động này góp phần tạo môi trường để học sinh, sinh viên tiếp cận với tư duy kinh doanh, đổi mới sáng tạo và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Quyết định 2650/QĐ-BGDĐT phê duyệt Khung nội dung kiến thức, kỹ năng về khởi nghiệp kinh doanh dành cho học sinh, sinh viên. Đây là tài liệu định hướng để các cơ sở giáo dục nghiên cứu, lựa chọn và vận dụng phù hợp với chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và điều kiện thực tế. Khung được xây dựng trên cơ sở tham khảo các khung năng lực quốc tế, trong đó có EntreComp của Liên minh châu Âu, đồng thời được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu giáo dục và bối cảnh Việt Nam.
Đáng chú ý, Khung xác định 7 trục năng lực chung gồm: nhận diện cơ hội và bối cảnh; sáng tạo và ý tưởng tạo giá trị; lập kế hoạch khởi nghiệp; thử nghiệm và thích ứng; huy động và tối ưu nguồn lực; hợp tác, giao tiếp và quản trị; đạo đức và trách nhiệm xã hội. Mục tiêu của giáo dục khởi nghiệp là giúp người học biết phát hiện vấn đề, nhìn thấy cơ hội, tạo ra giá trị, kiểm chứng ý tưởng, làm việc với người khác và chịu trách nhiệm về tác động của sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp mà mình tạo ra. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Người học cần khả năng thích ứng, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, hợp tác và chủ động trước những thay đổi của nghề nghiệp.
Khung nội dung định hướng người học được thiết kế và thử nghiệm sản phẩm mẫu, mô hình hoặc giải pháp; kiểm chứng giả định; thu thập phản hồi; đánh giá kết quả và điều chỉnh dựa trên bằng chứng. Người học xác định, huy động và sử dụng phù hợp các nguồn lực cần thiết, bao gồm nhân lực, tài chính, vật liệu, thời gian, thông tin, tri thức, dữ liệu, công cụ số và trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, truyền thông và triển khai ý tưởng, dự án; đồng thời bảo đảm sử dụng nguồn lực tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, an toàn, có kiểm chứng và tuân thủ pháp luật.
Xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp để kỹ năng được chuyển hóa thành giá trị
Việc hình thành năng lực khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên không thể chỉ đặt lên vai nhà trường. Một hệ sinh thái đủ mạnh cần có sự tham gia của doanh nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo, địa phương và các chuyên gia.
Điều này phù hợp với Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026-2035” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 336/QĐ-TTg. Chương trình hướng tới hình thành văn hóa khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục, lan tỏa tinh thần và khát vọng khởi nghiệp, phát triển các sản phẩm, giải pháp có giá trị; đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành Quyết định 1112/QĐ-BGDĐT để triển khai chương trình trong toàn ngành. Một trong những mục tiêu được xác định là trang bị kiến thức, kỹ năng và tư duy khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên; xây dựng văn hóa đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục; nâng cao hiệu quả kết nối nhà trường - doanh nghiệp - nhà đầu tư - địa phương để hỗ trợ ý tưởng, dự án khởi nghiệp phát triển bền vững.
Với sinh viên đại học, đặc biệt trong những lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật và khoa học cơ bản, khoảng cách từ một kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại thường đòi hỏi vốn, cơ sở vật chất, chuyên gia, thị trường và kinh nghiệm quản trị. Vì vậy, hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học cần được xây dựng theo hướng kết nối phòng thí nghiệm, giảng viên, sinh viên, doanh nghiệp, nhà đầu tư và các tổ chức hỗ trợ. Đại học không chỉ là nơi tạo ra tri thức mà còn phải trở thành môi trường để tri thức được thử nghiệm, chuyển giao và tạo ra sản phẩm, giải pháp. Sinh viên không chỉ là người tiếp nhận tri thức mà có thể trở thành chủ thể của quá trình đổi mới.
Đặc biệt, cần tránh xu hướng đồng nhất giáo dục khởi nghiệp với việc tổ chức nhiều cuộc thi. Cuộc thi có thể là điểm khởi đầu để phát hiện ý tưởng và nhân tố mới, nhưng hệ sinh thái phải có cơ chế tiếp tục hỗ trợ sau cuộc thi: cố vấn, hoàn thiện sản phẩm, sở hữu trí tuệ, thử nghiệm thị trường, kết nối doanh nghiệp, gọi vốn và thương mại hóa.
Điểm đáng chú ý nhất của Khung nội dung mới là đưa đạo đức và trách nhiệm xã hội trở thành một trục năng lực riêng. Người học được định hướng hành động trung thực, minh bạch, tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân và cân nhắc tác động xã hội, môi trường, tính bền vững.
Mục tiêu cuối cùng của giáo dục khởi nghiệp là người học có khả năng nhận diện vấn đề, đưa ra giải pháp có căn cứ, kiểm chứng ý tưởng, sử dụng nguồn lực hiệu quả, hợp tác với người khác và điều chỉnh khi thực tế thay đổi. Đây cũng là điểm cần lưu ý trong tổ chức đánh giá. Quy định mới nhấn mạnh đánh giá dựa trên minh chứng và không yêu cầu người học ở các cấp học, trình độ đào tạo khác nhau đạt cùng một mức độ năng lực. Điều này tạo dư địa để các cơ sở giáo dục xây dựng cách triển khai linh hoạt, tránh biến giáo dục khởi nghiệp thành một bộ tiêu chí cứng áp dụng đồng loạt.
Quy định mới tạo cơ sở để giáo dục khởi nghiệp trở thành một phương thức quan trọng để phát triển năng lực người học, kết nối giáo dục với thực tiễn và chuẩn bị nguồn nhân lực cho nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Đây cũng là nền tảng bền vững để tinh thần khởi nghiệp từ nhà trường có thể chuyển hóa thành năng lực đổi mới sáng tạo của quốc gia.