Chủ Nhật , 04/10/2026 , 19:23:06 GMT+7

Đổi mới tuyển sinh, siết chất lượng đào tạo sư phạm

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Hai, 28/09/2026, 14:26:26 GMT+7

Cơ chế tuyển sinh đào tạo sư phạm được định hướng đổi mới theo hướng đánh giá năng lực nghề nghiệp, yếu tố tâm lý sư phạm ngay từ đầu vào, đồng thời siết chặt đánh giá đầu ra và khả năng đáp ứng thực tế của sinh viên sau tốt nghiệp.

Nội dung trên được nêu tại Thông báo số 500/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết căn bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm.

Theo định hướng này, đổi mới đào tạo giáo viên không chỉ tập trung vào việc bảo đảm đủ số lượng mà còn phải nâng chất lượng ngay từ khâu tuyển sinh, chương trình đào tạo đến đánh giá kết quả đầu ra. Trong đó, cơ chế tuyển sinh cần được bổ sung những yếu tố phản ánh mức độ phù hợp của người học với nghề giáo; còn chất lượng cơ sở đào tạo cần được nhìn nhận từ năng lực thực tế của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Đánh giá năng lực nghề nghiệp, tâm lý sư phạm ngay từ đầu vào

Tạp chí giáo dục
Tuyển sinh sư phạm gắn với yêu cầu nghề nghiệp. Nguồn: VOV.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng thu gọn đầu mối, chấm dứt tình trạng đào tạo sư phạm ở các trường không phải là trường sư phạm, kém chất lượng; tập trung nguồn lực phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm với tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng và được đầu tư bài bản, vượt trội.

Các trường sư phạm trọng điểm được định hướng phát triển trên 3 trụ cột: đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Cùng với việc sắp xếp mạng lưới, yêu cầu chuẩn hóa chất lượng đào tạo được đặt ra cho toàn hệ thống.

Theo đó, chương trình và chuẩn đầu ra đào tạo giáo viên cần được rà soát, chuẩn hóa và áp dụng chung, có tính bắt buộc, nhằm giảm chênh lệch chất lượng giữa các cơ sở đào tạo sư phạm. Sinh viên tốt nghiệp phải đáp ứng thực chất yêu cầu nghề nghiệp, trong đó chú trọng phẩm chất, đạo đức, ý thức trách nhiệm và liêm chính nghề nghiệp; năng lực chuyên môn, phương pháp dạy học, kiểm tra và đánh giá; kỹ năng quản lý lớp học, tâm lý học sinh; năng lực số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và đặc biệt là tăng thời lượng, chất lượng thực hành sư phạm.

Trong yêu cầu đó, đổi mới cơ chế tuyển sinh được xác định là một khâu quan trọng. Thay vì chỉ dựa vào kết quả học tập hoặc các tiêu chí tuyển sinh thông thường, cơ chế mới được định hướng bổ sung đánh giá năng lực nghề nghiệp và yếu tố tâm lý sư phạm ngay từ đầu vào.

Đây là cách tiếp cận đặt vấn đề phù hợp nghề nghiệp sớm hơn trong quá trình tuyển chọn. Bởi đào tạo giáo viên không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn mà còn cần năng lực sư phạm, khả năng tương tác, quản lý lớp học, hiểu tâm lý học sinh và ý thức trách nhiệm với nghề.

Việc đánh giá những yếu tố này ngay từ đầu vào có thể tạo cơ sở để các trường tuyển chọn người học phù hợp hơn với đặc thù nghề giáo, đồng thời giúp quá trình đào tạo tập trung phát triển những năng lực mà nghề nghiệp thực tế đòi hỏi.

Đào tạo theo nhu cầu, gắn chặt với nơi giáo viên cần

Cùng với đổi mới đầu vào, yêu cầu về đánh giá đầu ra được đặt ở mức chặt chẽ hơn. Cơ chế kiểm định được yêu cầu cải tiến theo hướng thực chất, có khả năng đo lường tác động thực tế đối với đầu ra và khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Đáng chú ý, năng lực thực tế của sinh viên sau tốt nghiệp được xác định là một tiêu chí đánh giá cơ sở đào tạo, thay vì chỉ dựa vào số lượng tiến sĩ, số chương trình được kiểm định hoặc các tiêu chí liên quan khác.

Điều này cho thấy chất lượng đào tạo sư phạm được nhìn nhận theo chuỗi từ đầu vào đến quá trình đào tạo và kết quả sau tốt nghiệp. Một chương trình đào tạo chỉ thực sự đáp ứng yêu cầu khi sinh viên ra trường có thể thực hiện tốt nhiệm vụ nghề nghiệp, thích ứng với môi trường nhà trường và đáp ứng những yêu cầu mới của giáo dục phổ thông.

Theo định hướng này, các trường đào tạo giáo viên được yêu cầu tăng cường liên kết với trường phổ thông trong đào tạo sinh viên sư phạm. Thực hành sư phạm phải trở thành nội dung trọng tâm của chương trình; đồng thời nghiên cứu, cải tiến các mô hình đào tạo, kết hợp giữa mô hình truyền thống và các mô hình mới.

Các cơ sở đào tạo sư phạm cũng phải xây dựng, chuẩn hóa hệ thống dữ liệu theo dõi sinh viên sau tốt nghiệp; chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đào tạo, tỷ lệ sinh viên vào nghề và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tế.

Đây là cơ sở để kết quả đào tạo được theo dõi trong một chu trình dài hơn, thay vì dừng lại ở thời điểm sinh viên hoàn thành chương trình và nhận bằng tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, đổi mới chất lượng đào tạo sư phạm cũng được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với bài toán thừa, thiếu giáo viên. Theo kết luận tại Thông báo 500/TB-VPCP, các trường đại học sư phạm và cơ sở đào tạo giáo viên cần chủ động phối hợp với địa phương để xác định nhu cầu, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng theo đơn đặt hàng.

Định hướng được nhấn mạnh là chuyển từ tư duy “đào tạo những gì có thể đào tạo” sang “đào tạo theo nhu cầu của hệ thống giáo dục, địa phương và xã hội”. Trong đó, ưu tiên các môn học, cấp học và địa bàn đang thiếu giáo viên kéo dài, khó tuyển dụng.

Đào tạo cũng cần gắn với những yêu cầu mới của giáo dục phổ thông như đổi mới chương trình, sách giáo khoa, chuyển đổi số, dạy và học STEM, ngoại ngữ; đồng thời rà soát, cập nhật đồng bộ giữa Chương trình giáo dục phổ thông và chương trình đào tạo sư phạm.

Cùng với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định số 116/2020/NĐ-CP và các quy định liên quan, khắc phục tình trạng đặt hàng đào tạo không gắn với nhu cầu sử dụng lao động. Một trong những hướng được nghiên cứu là cơ chế hỗ trợ sinh viên sư phạm gắn với việc sử dụng sau tốt nghiệp, nhất là đối với những môn học, địa bàn khó tuyển; cơ chế đăng ký, cam kết phục vụ, tuyển dụng hoặc bố trí công tác phù hợp. Nội dung này được yêu cầu trình cấp có thẩm quyền trong năm 2026 để triển khai từ năm 2027.

Nhìn tổng thể, đổi mới cơ chế tuyển sinh chỉ là một khâu trong quá trình nâng chất lượng đào tạo sư phạm. Khi đầu vào được đánh giá thêm về năng lực nghề nghiệp và tâm lý sư phạm, chương trình được chuẩn hóa, thực hành được tăng cường và đầu ra được đo bằng năng lực thực tế sau tốt nghiệp, chất lượng đào tạo sẽ được nhìn nhận sát hơn với yêu cầu của nghề giáo.

Cùng với đó, việc đào tạo theo nhu cầu thực tế của địa phương, theo dõi sinh viên sau tốt nghiệp và gắn trách nhiệm của cơ sở đào tạo với chất lượng sản phẩm đầu ra có thể tạo sự kết nối chặt chẽ hơn giữa nơi đào tạo và nơi sử dụng giáo viên. Đây cũng là hướng giải quyết đồng thời hai yêu cầu: nâng chất lượng đội ngũ và đào tạo đúng những gì hệ thống giáo dục thực sự cần.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận