Trao quyền phải đi cùng năng lực thực thi
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian. Nghị định quy định quyền tự chủ trên nhiều lĩnh vực, gồm hoạt động giáo dục, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cơ cấu tổ chức, nhân sự; tài chính, tài sản và đầu tư. Quyền tự chủ trong hoạt động giáo dục được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với trách nhiệm giải trình, bảo đảm chất lượng, công khai, minh bạch và sự giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Các cơ sở giáo dục được tự chủ xây dựng, phát triển chương trình đào tạo; tuyển sinh, đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định; thực hiện bảo đảm và kiểm định chất lượng; hợp tác, liên kết trong nước và quốc tế.
Ở lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, không gian tự chủ cũng được mở rộng. Các cơ sở giáo dục có quyền chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý, khai thác các nguồn lực, dữ liệu phục vụ hoạt động này. Đáng chú ý, các cơ sở giáo dục có thể triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình giáo dục số, công nghệ giáo dục, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Những quy định này cho thấy quyền tự chủ ngày càng bao quát những lĩnh vực cốt lõi quyết định năng lực phát triển của một trường đại học. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị đại học.
Trao đổi về vấn đề này, PGS.TS Phan Thanh Bình - Nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, qua hơn ba thập niên đổi mới, nhận thức về tự chủ đại học ở Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể. Từ chỗ được xem là công cụ đổi mới quản lý, tự chủ từng bước trở thành phương thức đổi mới quản trị và hiện nay được đặt trong chiến lược phát triển quốc gia, hướng tới kiến tạo năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Điểm quan trọng ở đây là mục tiêu của tự chủ cũng thay đổi. Nếu tự chủ trước đây chủ yếu nhằm giúp trường đại học hoạt động chủ động và hiệu quả hơn thì trong bối cảnh mới, tự chủ phải hướng tới những giá trị lớn hơn, gắn với năng lực cạnh tranh và năng lực phát triển của đất nước.
Một trong những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện tự chủ đại học là khoảng cách giữa quyền được trao và năng lực thực thi quyền. Nghị định 334/2026/NĐ-CP trao cho cơ sở giáo dục công lập quyền quyết định cơ cấu tổ chức, thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị thuộc và trực thuộc; quyết định vị trí việc làm, số lượng người làm việc trong phạm vi đề án tự chủ, chiến lược phát triển đã được phê duyệt. Cơ sở giáo dục cũng được trao quyền tuyển dụng, đánh giá, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và phân công viên chức thuộc thẩm quyền quản lý. Khi trường đại học được trao quyền lớn hơn trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ, yêu cầu đặt ra không chỉ là giảm bớt các tầng nấc hành chính mà phải xây dựng được cơ chế thu hút, sử dụng và giữ chân nhân tài. Nghị định mới cũng cho phép cơ sở giáo dục công lập sử dụng nguồn tài chính để thực hiện các cơ chế đãi ngộ, trong đó có cơ chế vượt trội để thuê chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước.
Theo GS.TS Nguyễn Đức Chính - Nguyên Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, tự chủ đại học không nên được hiểu đơn giản là việc trao thêm quyền cho các cơ sở giáo dục đại học, mà phải gắn với năng lực thực thi tương ứng. Khi được trao quyền, nhà trường cần có đủ năng lực quản trị, đội ngũ, nguồn lực và cơ chế để biến quyền tự chủ thành kết quả cụ thể. Trong đó, tự chủ học thuật giữ vị trí cốt lõi, bởi quyền quyết định về chương trình đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo và bảo đảm chất lượng là nền tảng để trường đại học thực hiện sứ mệnh của mình. Vì vậy, mở rộng quyền tự chủ cần đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của nhà trường trước người học, xã hội và Nhà nước, nhất là về chất lượng đào tạo và hiệu quả sử dụng các nguồn lực.
Đây cũng là lý do tự chủ phải gắn chặt với trách nhiệm giải trình. Nghị định 334/2026/NĐ-CP xác định rõ quyền tự chủ đi cùng bảo đảm chất lượng, công khai, minh bạch và thanh tra, kiểm tra, giám sát.
Không nên đồng nhất tự chủ với tự bảo đảm tài chính
Một vấn đề cần được nhìn nhận rõ hơn trong quá trình thực hiện tự chủ là mối quan hệ giữa tự chủ và tài chính. Trong thực tiễn trước đây, tự chủ đại học nhiều khi bị thu hẹp thành tự chủ tài chính. Cách tiếp cận này có thể dẫn tới nguy cơ các trường ưu tiên những ngành đào tạo có khả năng thu hút người học và tạo nguồn thu, trong khi những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược nhưng khó tạo nguồn thu lại gặp khó khăn.
PGS.TS Phan Thanh Bình cũng chỉ ra rằng những nhiệm vụ như khoa học cơ bản, công nghệ nguồn hay đào tạo nhân lực cho khu vực công không thể hoàn toàn vận hành theo cơ chế thị trường. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đặt yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao ở vị trí ngày càng quan trọng.
Nghị định 334/2026/NĐ-CP đã thể hiện rõ hơn nguyên tắc này. Việc áp dụng cơ chế tự chủ tài chính phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực đào tạo, khả năng xã hội hóa, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực quốc gia và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, Nhà nước thực hiện hỗ trợ, đầu tư, đặt hàng và giao nhiệm vụ đối với các ngành, nghề trọng điểm, mũi nhọn, khoa học cơ bản, công nghệ cao, những ngành xã hội có nhu cầu nhưng khó tuyển sinh và các nhiệm vụ phát triển quốc gia, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục.
Như vậy, khi trao quyền tự chủ, Nhà nước càng cần xác định rõ những lĩnh vực phải đầu tư dài hạn để bảo đảm năng lực quốc gia. Trong cách tiếp cận mới, Nhà nước cần chuyển từ quản lý trực tiếp sang kiến tạo thể chế, đầu tư và định hướng chiến lược. Các trường đại học có quy mô, điều kiện, lĩnh vực đào tạo, năng lực nghiên cứu và sứ mệnh khác nhau. Do đó, mức độ tự chủ và cơ chế phát triển cũng cần được thiết kế phù hợp.
PGS.TS Phan Thanh Bình đặt vấn đề từ vị trí của đại học công lập trong chiến lược phát triển đất nước. Theo đó, đại học công lập không nên chỉ được nhìn nhận bằng hình thức sở hữu mà trước hết phải được xác định bằng trách nhiệm công; trong đó có những nhiệm vụ mà thị trường không thể hoặc không có đủ động lực thực hiện như khoa học cơ bản, công nghệ nền tảng, nghiên cứu chiến lược và đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực công.
Từ góc nhìn này, đại học công lập cần được xem như một hạ tầng tri thức chiến lược của quốc gia, không chỉ đào tạo nhân lực mà còn sản sinh tri thức mới, phát triển công nghệ, hình thành đội ngũ chuyên gia, tư vấn chính sách và nuôi dưỡng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Do đó, tự chủ đại học cần được đặt trong một hệ thống phân tầng và phân vai rõ hơn. Những trường có thế mạnh đào tạo có thể phát triển theo hướng đáp ứng thị trường lao động; những trường có năng lực nghiên cứu cần được tạo điều kiện phát triển thành trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; các đại học giữ vai trò dẫn dắt quốc gia cần có không gian tự chủ rộng hơn để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược.
Đặc biệt, với các Đại học Quốc gia và đại học trọng điểm, vấn đề không chỉ là trao quyền tự chủ cho từng đơn vị thành viên mà cần hướng tới mô hình “tự chủ hệ thống”. Đây là cơ chế để các nhóm cơ sở giáo dục đại học được trao không gian phát triển tương ứng với chức năng và trách nhiệm quốc gia mà mình đảm nhận.
Chuyển từ quản lý các trường sang kiến tạo hệ thống
Khi quyền tự chủ được mở rộng, Nhà nước cần tập trung hơn vào hoạch định chiến lược, hoàn thiện thể chế, đầu tư trọng điểm, đặt hàng nhiệm vụ và xây dựng cơ chế đánh giá, giải trình thay vì can thiệp sâu vào hoạt động học thuật và quản trị nội bộ của nhà trường. Điều này cũng có nghĩa quản lý thống nhất không nhất thiết phải đồng nhất cơ chế phát triển. Một hệ thống đại học mạnh cần chấp nhận sự khác biệt về thể chế và mức độ tự chủ phù hợp với sứ mệnh của từng nhóm cơ sở giáo dục đại học.
Nghị định 334/2026/NĐ-CP đã tạo thêm cơ sở pháp lý cho cách tiếp cận này khi vừa mở rộng quyền tự chủ, vừa quy định trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và cơ chế Nhà nước hỗ trợ, đầu tư, đặt hàng những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Quyền tự chủ chỉ phát huy hiệu quả khi hội đồng trường, đội ngũ lãnh đạo, nhà khoa học và bộ máy quản trị có đủ năng lực để ra quyết định; khi chiến lược phát triển được xác lập rõ; khi hệ thống bảo đảm chất lượng và trách nhiệm giải trình vận hành thực chất.
Từ đó, tự chủ đại học cần được nhìn nhận như một khế ước phát triển: Nhà nước tạo lập thể chế thuận lợi, đầu tư có trọng điểm và trao không gian tự chủ đủ rộng; các trường đáp lại bằng chất lượng đào tạo, kết quả nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, phát triển nhân tài và những đóng góp cụ thể cho xã hội. Trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt là xây dựng một hệ thống đại học có năng lực tự chủ và năng lực kiến tạo phát triển. Khi quyền tự chủ được đặt đúng trong mối quan hệ với năng lực thực thi, trách nhiệm giải trình, đầu tư chiến lược và sứ mệnh quốc gia, tự chủ đại học mới có thể chuyển từ một cơ chế quản trị thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học, phát triển khoa học - công nghệ và hình thành nguồn nhân lực cho những mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước.