Chuẩn bị đội ngũ cho chương trình thí điểm
Theo kế hoạch, chương trình được triển khai tại 12 xã vùng biên gồm: Pà Vầy Sủ, Lao Chải, Minh Tân, Tùng Vài, Nghĩa Thuận, Cán Tỷ, Thắng Mố, Sà Phìn, Lũng Cú, Phố Bảng, Đồng Văn và Sơn Vĩ. Trong đó 14 cơ sở giáo dục gồm: 10 trường Phổ thông nội trú tiểu học và trung học cơ sở, 1 trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở, 3 trường Phổ thông dân tộc bán trú tiểu học. Năm học 2026 - 2027 sẽ thực hiện thí điểm tại 4 trường. Năm học 2027 - 2028 mở rộng triển khai tại 10 trường còn lại.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên biết và có khả năng dạy tiếng Mông, từng bước tạo nền tảng để mở rộng việc dạy học tiếng dân tộc trong những năm tiếp theo.
Trên cơ sở đó, Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang ban hành Kế hoạch số 304/KH-PHHG ngày 30/6/2026 về đào tạo, cấp chứng chỉ giáo viên dạy tiếng dân tộc Mông cho 100 giáo viên từ 12 xã biên giới. Chương trình có thời lượng 650 tiết, thực hiện theo Chương trình khung đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số ban hành tại Quyết định số 02/2006/QĐ-BGDĐT. Nội dung đào tạo chú trọng đồng thời năng lực tiếng Mông, kiến thức văn hóa dân tộc và nghiệp vụ sư phạm.
Việc đào tạo, cấp chứng chỉ cho 100 giáo viên từ 12 xã biên giới là bước chuẩn bị quan trọng, góp phần đưa tiếng Mông vào trường học, đồng thời dạy học tiếng Mông góp phần bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa dân tộc Mông; đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh, chủ quyền khu vực biên giới.
100 giáo viên, một quyết tâm chung
Theo kế hoạch triển khai, 100 giáo viên thuộc diện đào tạo đã được các cơ sở giáo dục lựa chọn, và được UBND 12 xã biên giới ban hành quyết định cử tham gia khóa học. Đến nay, 100% giáo viên được cử đã tham gia học tập, bảo đảm yêu cầu về thời gian và tiến độ đào tạo.
Với giáo viên công tác tại địa bàn biên giới, việc tham gia khóa học tập trung đặt ra không ít khó khăn do khoảng cách địa lý, điều kiện đi lại và yêu cầu bảo đảm hoạt động chuyên môn tại trường. Tuy nhiên, các giáo viên đã chủ động sắp xếp công việc để tham gia chương trình.
Để tiếng Mông thực sự trở thành nội dung học tập trong nhà trường, yêu cầu đặt ra không dừng ở khả năng nghe, nói, đọc, viết của giáo viên. Người dạy còn cần hiểu đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của cộng đồng, nắm vững phương pháp sư phạm và biết lựa chọn cách truyền đạt phù hợp với độ tuổi, trình độ của học sinh.
Vì vậy, chương trình đào tạo được triển khai theo hướng kết hợp giữa ngôn ngữ, văn hóa, phương pháp dạy học và nghiệp vụ sư phạm. Đây là cách tiếp cận giúp giáo viên từng bước chuyển từ khả năng sử dụng tiếng Mông trong giao tiếp sang năng lực tổ chức dạy học theo yêu cầu của chương trình.
Đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy các chuyên đề đã chủ động gắn nội dung chuyên môn với những vấn đề thực tiễn. Qua trao đổi về tình huống tại trường học, khó khăn khi tiếp cận ngôn ngữ, văn hóa và nhu cầu về phương pháp, học liệu, giáo viên có thêm điều kiện hình dung nhiệm vụ sẽ đảm nhận sau khi hoàn thành khóa học.