Thứ Sáu , 16/10/2026 , 12:31:47 GMT+7

Rà soát theo nơi cư trú thực tế, không bỏ sót người cần xóa mù chữ

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Sáu, 16/10/2026, 09:14:57 GMT+7

Dự thảo Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về điều kiện bảo đảm, nội dung và quy trình kiểm tra, công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ đặt ra yêu cầu rà soát người trong độ tuổi theo nơi cư trú thực tế, không phụ thuộc hộ khẩu thường trú. Cùng với quản lý bằng dữ liệu, quy định này hướng tới xác định đúng đối tượng, bảo đảm quyền học tập và nâng cao trách nhiệm của địa phương trong duy trì kết quả.

Quản lý theo nơi cư trú thực tế, bảo đảm không bỏ sót người học

Tạp chí giáo dục
Bảo đảm quyền học tập từ khâu rà soát tại địa phương. Nguồn: MOET.

Bộ GDĐT đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Thông tư quy định về điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình kiểm tra, công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.

Dự thảo được xây dựng nhằm triển khai Nghị định số 353/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026 của Chính phủ quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ. Đồng thời, văn bản cụ thể hóa các yêu cầu về điều kiện bảo đảm, quản lý dữ liệu, kiểm tra, công nhận và duy trì kết quả giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ.

Xuyên suốt dự thảo là yêu cầu bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, huy động nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tế và nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đây là những yếu tố quan trọng để công tác giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ không dừng ở việc xác lập kết quả đạt chuẩn mà được duy trì bằng các giải pháp phù hợp với từng địa bàn, từng nhóm người học.

Dự thảo xác định đối tượng rà soát là người trong độ tuổi giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ đang cư trú thực tế trên địa bàn cấp xã, không phân biệt nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký hộ tịch gốc.

Quy định này tạo cơ sở để địa phương chủ động rà soát, xác định đúng đối tượng, nắm bắt tình trạng học tập và xây dựng phương án huy động người học phù hợp. Cách tiếp cận theo nơi cư trú thực tế cũng góp phần hạn chế nguy cơ bỏ sót trẻ em trong độ tuổi giáo dục bắt buộc, người chưa biết chữ và người có nguy cơ tái mù chữ, nhất là tại những địa bàn có biến động dân cư.

Điểm đáng chú ý là việc rà soát không chỉ nhằm thống kê số lượng người thuộc diện quản lý mà còn phục vụ theo dõi quá trình tham gia học tập, kết quả hoàn thành chương trình và nhu cầu hỗ trợ của từng nhóm đối tượng. Như vậy, dữ liệu rà soát cần trở thành căn cứ để tổ chức các giải pháp giáo dục cụ thể, thay vì chỉ phục vụ việc tổng hợp báo cáo.

Để yêu cầu này phát huy hiệu quả, công tác rà soát cần được thực hiện thường xuyên, gắn với việc cập nhật biến động dân cư và phối hợp giữa chính quyền cấp xã với các cơ sở giáo dục. Việc xác định đúng người học mới là bước đầu; quan trọng hơn là từ danh sách đã rà soát, địa phương có phương án tiếp cận, vận động và hỗ trợ phù hợp, nhất là với những trường hợp có hoàn cảnh khó khăn hoặc chưa có điều kiện tham gia học tập ổn định.

Bên cạnh đó, dự thảo quy định cụ thể về dữ liệu, hệ thống thông tin và mã định danh nhằm phục vụ quản lý giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ. Theo đó, mỗi cá nhân được quản lý bằng một mã định danh duy nhất trong hệ thống dữ liệu, góp phần theo dõi thống nhất quá trình học tập, kết quả hoàn thành chương trình và tình trạng đạt chuẩn theo quy định.

Dữ liệu được cập nhật, quản lý và khai thác trên môi trường số, làm căn cứ theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện, lập báo cáo, thống kê và phục vụ kiểm tra, công nhận đạt chuẩn.

Cách tiếp cận này hướng tới giảm sự phụ thuộc vào việc tổng hợp hồ sơ thủ công, hạn chế trùng lặp, sai lệch số liệu, đồng thời nâng cao khả năng đối chiếu và kiểm chứng kết quả. Khi thông tin được quản lý thống nhất, cơ quan quản lý có thêm cơ sở để nhận diện những địa bàn còn khó khăn, những nhóm người học chưa được tiếp cận đầy đủ và những vấn đề cần ưu tiên giải quyết.

Tuy nhiên, hiệu quả quản lý số phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu đầu vào, mức độ cập nhật và khả năng phối hợp giữa các đơn vị liên quan. Nếu dữ liệu không phản ánh kịp thời biến động dân cư hoặc tình trạng học tập thực tế, hệ thống vẫn có thể bỏ sót đối tượng dù quy trình quản lý đã được số hóa. Vì vậy, việc cập nhật và đối chiếu dữ liệu cần gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cấp, từng đơn vị; đồng thời, kết nối và chia sẻ dữ liệu phải tuân thủ quy định pháp luật, bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bảo đảm điều kiện thực chất để thực hiện giáo dục bắt buộc

Tạp chí giáo dục
Huy động nguồn lực tại chỗ để nâng cao hiệu quả xóa mù chữ. Nguồn: Vietnam.vn

Đối với giáo dục bắt buộc cấp tiểu học và trung học cơ sở, dự thảo quy định các điều kiện bảo đảm về đội ngũ, mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và kinh phí thực hiện.

Cơ sở giáo dục phải bảo đảm đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo vị trí việc làm và quy định hiện hành. Địa phương có trách nhiệm phân công người theo dõi công tác giáo dục bắt buộc trên địa bàn.

Mạng lưới cơ sở giáo dục cần được quy hoạch, bố trí phù hợp, bảo đảm người học tiếp cận trường lớp thuận lợi, an toàn và đáp ứng nhu cầu giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật có khả năng học tập. Các điều kiện về phòng học, thiết bị dạy học tối thiểu, sân chơi, bãi tập, nước sạch, công trình vệ sinh và tổ chức dạy học được xác định gắn với các quy định hiện hành của Bộ GDĐT.

Về nguồn lực tài chính, dự thảo quy định việc bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm theo phân cấp, cùng các nguồn tài trợ, viện trợ và nguồn hợp pháp khác.

Các quy định này cho thấy giáo dục bắt buộc không thể chỉ được đánh giá qua số lượng người được huy động đến trường hoặc tỷ lệ đạt chuẩn. Để duy trì kết quả, địa phương cần bảo đảm những điều kiện tối thiểu để cơ sở giáo dục tổ chức dạy học, hỗ trợ người học và duy trì chất lượng. Trong đó, việc bố trí trường lớp thuận lợi, đủ đội ngũ và có nguồn kinh phí phù hợp có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng tiếp cận giáo dục của người dân.

Đặc biệt, với những khu vực dân cư phân tán hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, yêu cầu bảo đảm điều kiện cần được đặt trong mối liên hệ với nhu cầu thực tế của người học. Rà soát đúng đối tượng sẽ khó tạo chuyển biến nếu người học vẫn gặp trở ngại về khoảng cách, điều kiện học tập hoặc sự hỗ trợ cần thiết để duy trì việc đến trường.

Ngoài ra, dự thảo quy định điều kiện đối với người tham gia dạy học chương trình xóa mù chữ, bên cạnh đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.

Theo đó, người tham gia dạy học phải đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất đạo đức, sức khỏe, trình độ đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định. Đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, đặc khu, hải đảo, trường hợp không bố trí được người đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo thì có thể bố trí người tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, nếu đáp ứng các điều kiện khác theo dự thảo.

Dự thảo đồng thời xác định việc ưu tiên huy động người biết tiếng dân tộc thiểu số, am hiểu văn hóa, phong tục, tập quán địa phương; người có uy tín trong cộng đồng; cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn tham gia dạy học xóa mù chữ.

Thời gian và địa điểm học được bố trí linh hoạt, phù hợp với điều kiện lao động, sản xuất, sinh hoạt, ngôn ngữ, văn hóa và khả năng tham gia của người học. Việc sử dụng tài liệu song ngữ và học liệu số phù hợp cũng được khuyến khích.

Đối với lớp tổ chức ngoài cơ sở giáo dục, UBND cấp xã phối hợp với cơ sở giáo dục trên địa bàn tổ chức, quản lý về chuyên môn, hồ sơ lớp học và đánh giá kết quả học tập theo quy định.

Việc huy động nguồn lực tại chỗ và tổ chức lớp học linh hoạt giúp hoạt động xóa mù chữ có thêm điều kiện tiếp cận những nhóm người học khó tham gia các lớp học theo lịch trình thông thường. Người am hiểu ngôn ngữ, văn hóa và phong tục địa phương có thể góp phần thu hẹp khoảng cách trong giao tiếp, tạo sự gần gũi và thuận lợi hơn cho quá trình học tập.

Dù vậy, linh hoạt về nhân lực, thời gian và địa điểm không đồng nghĩa với giảm yêu cầu về chất lượng. Công tác tổ chức, quản lý chuyên môn và đánh giá kết quả cần được thực hiện nghiêm túc để bảo đảm người học thực sự tiếp thu được kiến thức, kỹ năng cần thiết. Việc duy trì kết quả xóa mù chữ cũng đòi hỏi sự quan tâm sau khi hoàn thành chương trình, hạn chế nguy cơ tái mù chữ, nhất là ở những nơi điều kiện tiếp cận thông tin và cơ hội học tập còn hạn chế.

Kiểm tra, công nhận dựa trên dữ liệu, gắn với trách nhiệm duy trì kết quả

Dự thảo quy định nội dung kiểm tra, công nhận gồm kiểm tra hồ sơ đề nghị công nhận, kiểm tra dữ liệu trên hệ thống thông tin và kiểm tra thực tế theo quy định tại Nghị định số 353/2026/NĐ-CP.

Quy trình kiểm tra, công nhận được quy định đối với cả cấp xã và cấp tỉnh, gắn với trách nhiệm tự kiểm tra, đánh giá, lập hồ sơ, tổ chức kiểm tra và quyết định công nhận theo thẩm quyền. Đối với xã không duy trì được mức độ đạt chuẩn giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ, việc kiểm tra, công nhận khôi phục lại được thực hiện như kiểm tra, công nhận lần đầu.

Ở cấp tỉnh, trường hợp tỉnh hai năm liền không duy trì được kết quả đạt chuẩn theo mức độ về giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ thì việc kiểm tra, công nhận khôi phục lại cũng được thực hiện như kiểm tra, công nhận lần đầu.

Việc kết hợp kiểm tra hồ sơ, dữ liệu và thực tế giúp tăng khả năng đối chiếu giữa kết quả báo cáo với tình hình triển khai tại địa bàn. Trong đó, dữ liệu là căn cứ quan trọng nhưng không thể thay thế hoàn toàn việc kiểm tra thực tế, bởi tình trạng học tập, điều kiện tiếp cận giáo dục và nguy cơ tái mù chữ cần được đánh giá từ thực tiễn.

Quy định về khôi phục công nhận khi không duy trì được chuẩn cũng nhấn mạnh rằng đạt chuẩn không phải là đích đến cuối cùng. Kết quả chỉ có ý nghĩa khi được duy trì ổn định và phản ánh đúng khả năng tiếp cận, hoàn thành chương trình của người học. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện hồ sơ và quy trình kiểm tra, địa phương cần chủ động phát hiện những yếu tố khiến kết quả suy giảm để có giải pháp khắc phục kịp thời.

Nhìn tổng thể, dự thảo Thông tư hướng tới kết nối các khâu từ rà soát đối tượng, quản lý dữ liệu, bảo đảm điều kiện dạy học đến kiểm tra, công nhận và duy trì kết quả giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ. Trong chuỗi công việc đó, quản lý theo nơi cư trú thực tế là điểm khởi đầu có ý nghĩa quan trọng: xác định đúng người cần được tiếp cận giáo dục sẽ giúp các nguồn lực và chính sách đến đúng đối tượng hơn.

Hiệu quả triển khai vì thế không chỉ nằm ở tỷ lệ đạt chuẩn được công nhận, mà còn ở khả năng bảo đảm không ai bị bỏ lại ngoài hệ thống giáo dục vì biến động nơi ở, hoàn cảnh sống hay những trở ngại trong tiếp cận học tập.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận