Thứ Sáu , 16/10/2026 , 13:24:19 GMT+7

Tăng thực hành, mô phỏng, giải quyết vấn đề trong đào tạo nhân lực điện hạt nhân

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Năm, 08/10/2026, 13:41:49 GMT+7

Không chỉ yêu cầu vững kiến thức chuyên môn, Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân đặt trọng tâm rõ hơn vào thực hành, thí nghiệm, mô phỏng và năng lực giải quyết các vấn đề chuyên môn. Cách tiếp cận này cùng với định hướng đào tạo liên ngành, tích hợp AI, dữ liệu và công nghệ số được kỳ vọng tạo nền tảng cho việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển lĩnh vực điện hạt nhân.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Quyết định số 2888/QĐ-BGDĐT về Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân.

Việc ban hành Chuẩn nhằm bảo đảm tính thống nhất trong các yêu cầu cốt lõi của chương trình đào tạo, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo phát huy quyền tự chủ trong thiết kế và phát triển chương trình phù hợp với định hướng nghiên cứu, điều kiện thực tiễn và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của quốc gia. Chuẩn cũng hướng tới tăng tính liên thông, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và bảo đảm chất lượng trong đào tạo nhân lực trình độ cao về điện hạt nhân.

Đào tạo liên ngành, tích hợp AI và công nghệ số

Tạp chí giáo dục
Phân định rõ yêu cầu giữa đào tạo ứng dụng và nghiên cứu. Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ.

Điểm đáng chú ý của Chuẩn là đào tạo nhân lực điện hạt nhân được tiếp cận theo hướng liên ngành, với sự tham gia của nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau.

Chuẩn xác định danh mục 22 ngành về điện hạt nhân trình độ thạc sĩ và tiến sĩ, gồm 7 ngành cốt lõi và 15 ngành phụ trợ - liên ngành.

Nhóm ngành cốt lõi gồm: Vật lý nguyên tử và hạt nhân; Kỹ thuật hạt nhân; Vật lý kỹ thuật; Kỹ thuật nhiệt; Kỹ thuật năng lượng; Kỹ thuật điện; Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa. Bên cạnh đó là các ngành phụ trợ - liên ngành thuộc nhiều lĩnh vực như cơ khí, cơ điện tử, môi trường, vật liệu, xây dựng, hóa học, địa chất, quản lý năng lượng.

Đáng chú ý, các ngành Khoa học máy tính, Công nghệ thông tin, Kỹ thuật máy tính, Trí tuệ nhân tạo và Khoa học dữ liệu cũng nằm trong danh mục này.

Việc phân nhóm được thực hiện dựa trên mức độ gắn và trực tiếp của nền tảng đào tạo đối với các quá trình vật lý, hệ thống công nghệ chính và chức năng vận hành - an toàn của nhà máy điện hạt nhân.

Cách tiếp cận liên ngành cho thấy yêu cầu đào tạo nhân lực điện hạt nhân không chỉ nằm ở việc nắm vững một lĩnh vực chuyên môn riêng lẻ. Sự kết hợp giữa kỹ thuật hạt nhân với điện, điều khiển, vật liệu, môi trường hay công nghệ thông tin tạo điều kiện để người học tiếp cận các vấn đề của lĩnh vực từ nhiều góc độ, phù hợp hơn với tính phức tạp của hệ thống điện hạt nhân.

Người tốt nghiệp được cấp bằng theo ngành đào tạo tương ứng; phụ lục văn bằng được phép ghi chú “Điện hạt nhân” hoặc tương đương.

Cùng với định hướng liên ngành, Chuẩn xác định 3 định hướng chuyên sâu gồm: Công nghệ và hệ thống năng lượng điện hạt nhân; An toàn, an ninh và quản lý hạt nhân; Kỹ thuật hạt nhân số và hạ tầng thông minh.

Theo đó, chương trình đào tạo không chỉ tập trung vào các nội dung chuyên môn truyền thống như vật lý và công nghệ lò phản ứng, kỹ thuật nhiệt, hệ thống năng lượng, kỹ thuật điện, điều khiển - tự động hóa, an toàn và an ninh hạt nhân mà còn tích hợp các lĩnh vực công nghệ mới.

Với định hướng Kỹ thuật hạt nhân số và hạ tầng thông minh, chương trình kết hợp kiến thức về kỹ thuật hạt nhân với khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, điều khiển - tự động hóa, mô phỏng tính toán và hạ tầng kỹ thuật thông minh.

Công nghệ số cũng được đưa vào phương pháp đào tạo. Chuẩn yêu cầu tích hợp công cụ số, mô phỏng, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng định hướng; đồng thời bảo đảm liêm chính học thuật, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và khả năng kiểm chứng kết quả.

Riêng với định hướng Kỹ thuật hạt nhân số và hạ tầng thông minh, yêu cầu thực hành có các nội dung như dữ liệu đặc thù nhà máy điện hạt nhân, AI và phân tích dữ liệu, Digital I&C, bản sao số, an ninh mạng hệ thống công nghiệp; kiểm tra, robot thông minh được bố trí phù hợp với yêu cầu theo cấu hình chuyên sâu của chương trình.

Việc đưa AI, dữ liệu, mô phỏng và các công nghệ số vào chương trình không chỉ mở rộng nội dung đào tạo mà còn thay đổi cách người học tiếp cận các vấn đề chuyên môn. Tuy nhiên, giá trị của công nghệ chỉ được phát huy khi được đặt trong yêu cầu cụ thể của từng định hướng, đi cùng khả năng kiểm chứng kết quả và bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu như Chuẩn đặt ra.

Tăng thực hành, mô phỏng và giải quyết vấn đề chuyên môn

Tạp chí giáo dục
Đào tạo theo mục tiêu, không áp dụng một phương thức chung. Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ.

Bên cạnh kiến thức chuyên môn, Chuẩn tăng yêu cầu về thực hành, thí nghiệm, mô phỏng và giải quyết các vấn đề chuyên môn trong chương trình đào tạo.

Theo đó, chương trình phải xác định cụ thể khối lượng thực hành, thí nghiệm, mô phỏng, thực tập hoặc nghiên cứu phù hợp với ngành và định hướng đào tạo. Các học phần về vật lý lò phản ứng, kỹ thuật nhiệt và hệ thống năng lượng phải có khối lượng thực hành, thí nghiệm chuyên ngành hoặc mô hình mô phỏng lò phản ứng; đồng thời bảo đảm các nội dung thực hành về điện và tự động hóa.

Điểm đáng chú ý ở đây là yêu cầu thực hành được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với từng nội dung chuyên môn, thay vì chỉ được xem như một phần bổ sung cho đào tạo lý thuyết. Với lĩnh vực có yêu cầu cao về độ chính xác, an toàn và khả năng xử lý tình huống, việc được thực hành, thí nghiệm và mô phỏng có thể giúp người học chuyển hóa kiến thức thành năng lực giải quyết vấn đề cụ thể.

Cách tổ chức đào tạo cũng được thiết kế phù hợp với mục tiêu của từng chương trình. Với thạc sĩ định hướng ứng dụng, phương pháp đào tạo chú trọng vấn đề, dự án và tình huống chuyên môn gắn với mô phỏng, thực hành và giải quyết các vấn đề kỹ thuật, công nghệ nghề nghiệp.

Với thạc sĩ định hướng nghiên cứu và tiến sĩ, chương trình tập trung phát triển năng lực nghiên cứu độc lập; riêng đào tạo tiến sĩ phải gắn với nhóm nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học, công nghệ.

Như vậy, cùng một chuẩn đào tạo nhưng yêu cầu năng lực được phân hóa theo định hướng. Người học theo hướng ứng dụng được đặt vào các vấn đề, dự án và tình huống chuyên môn; trong khi đào tạo nghiên cứu nhấn mạnh khả năng nghiên cứu độc lập. Cách phân định này giúp hạn chế việc áp dụng một phương thức đào tạo giống nhau cho các mục tiêu đầu ra khác nhau.

Chuẩn cũng đặt ra yêu cầu về ngoại ngữ phù hợp với đặc thù của lĩnh vực. Đối với giảng viên và nhân lực tham gia chương trình, yêu cầu về năng lực ngoại ngữ gắn với khả năng giảng dạy, nghiên cứu, khai thác tài liệu khoa học, tiêu chuẩn, quy chuẩn và tài liệu kỹ thuật chuyên ngành điện hạt nhân.

Để đáp ứng yêu cầu thực hành của lĩnh vực điện hạt nhân, Chuẩn quy định cơ sở vật chất, công nghệ và học liệu phải phù hợp với yêu cầu đào tạo, nghiên cứu và sự phát triển của khoa học, công nghệ.

Cơ sở đào tạo có thể đáp ứng điều kiện thực hành bằng nhiều hình thức như sở hữu trực tiếp; dùng chung trong cơ sở đào tạo; hợp tác với viện, doanh nghiệp hoặc cơ sở khác; sử dụng hạ tầng số, điện toán đám mây, phần mềm từ xa. Đối với nguồn, thiết bị bức xạ, việc sử dụng phải tuân thủ quy định hiện hành. Từng hình thức đáp ứng phải có minh chứng phù hợp.

Việc cho phép nhiều phương thức đáp ứng điều kiện thực hành tạo thêm dư địa để các cơ sở đào tạo khai thác nguồn lực sẵn có và tăng liên kết với các đơn vị bên ngoài. Đây cũng là hướng phù hợp với đặc thù của đào tạo điện hạt nhân, khi yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị và môi trường thực hành có tính chuyên biệt cao.

Cách tiếp cận này cho phép khai thác các điều kiện thực hành phù hợp với từng hướng đào tạo, từ vật lý lò phản ứng, thủy nhiệt và truyền nhiệt, hệ thống nhà máy điện hạt nhân, điện và nguồn điện an toàn, đo lường - điều khiển đến phân tích an toàn, đánh giá rủi ro, an toàn bức xạ, an ninh hạt nhân và ứng phó sự cố.

Cùng với điều kiện cơ sở vật chất, Chuẩn đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên và nhân lực hỗ trợ, trong đó chú trọng chuyên môn phù hợp với từng định hướng đào tạo, kinh nghiệm nghiên cứu và khả năng tham gia các hoạt động đào tạo, nghiên cứu trong lĩnh vực điện hạt nhân.

Chuẩn đồng thời khuyến khích cơ sở đào tạo tăng cường hợp tác với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), các cơ sở nghiên cứu, cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức quốc tế có uy tín trong đào tạo và nghiên cứu; xem xét sử dụng tài liệu hướng dẫn của IAEA và các tổ chức tương đương như một nguồn học liệu quan trọng.

Việc mở rộng hợp tác và chia sẻ nguồn lực có thể giúp cơ sở đào tạo bổ sung điều kiện thực hành, học liệu và kinh nghiệm chuyên môn mà một đơn vị khó có thể tự đáp ứng đầy đủ. Đặc biệt, với một lĩnh vực có yêu cầu cao về công nghệ và an toàn, kết nối giữa cơ sở đào tạo với viện nghiên cứu, cơ quan quản lý và doanh nghiệp có ý nghĩa trong việc đưa đào tạo đến gần hơn với thực tiễn nghiên cứu và vận hành.

Đối với các chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân đã được ban hành trước ngày Quyết định có hiệu lực, cơ sở đào tạo có trách nhiệm rà soát, điều chỉnh chương trình để bảo đảm đáp ứng các tiêu chí của Chuẩn trong thời hạn 36 tháng kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực.

Nhìn tổng thể, Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân đặt yêu cầu đồng thời ở ba phương diện: kiến thức chuyên môn, năng lực thực hành - giải quyết vấn đề và khả năng tiếp cận công nghệ mới. Việc tăng thực hành, thí nghiệm, mô phỏng cùng định hướng đào tạo liên ngành, tích hợp AI và dữ liệu giúp chương trình không chỉ chú trọng người học “biết gì” mà còn hướng tới khả năng vận dụng kiến thức để xử lý các vấn đề chuyên môn.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận